Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Lục bát.com

Lục bát.com




                                        ĐINH NGỌC LÂM

Ai mang dáng núi hình sông
Đặt thành Tam Cốc để bồng bềnh thơ
Ngàn xưa ban tặng bây giờ
Con đò xẻ nửa đôi bờ Ngô Giang

Nước mang hồn của xóm làng
Làng mang hồn nước, nước càng thêm trong
Ngước nhìn vòm đá cong cong
Mênh mang cổ tích trong lòng nước non

Bao mùa trăng khuyết lại tròn
Bao đời sông núi vẫn còn yêu nhau
Áng mây ngừng lặng trên đầu
Soi nghiêng bóng núi nhuốm màu thời gian

Nỗi gì mà đá âm vang
Nước dè dặt sóng thuyền nan nặng lòng
Đá ơi có hiểu ta không
Về cùng Tam Cốc để bồng bềnh say.

hoanghon            Thản nhiên mây trắng

                                     VĂN CÔNG HÙNG

tôi xoay một nửa quân cờ
rượu vang mê mải như giờ đồng lên
mẹ đau cho tuổi cho tên
em ban một ngọn gió mềm trong veo
 tôi buông một sợi dây diều
cỏ xanh khờ dại giữa chiều đồng cô
chân buồn những bậc nhấp nhô
một ly vắng một lũng lô mắt người
tôi làm ra nắng mà cười
làm say mà nhớ rũ mười kiếp đau
dùng dằng nào trước nào sau
nửa thân góc bể nửa màu non cao
lửng lơ ngược một câu chào
phập phồng máng cỏ ngôi sao phong tình
giời đày sáng tuổi chìm tên
u ơ hang đá mà quên chính mình
sáng ra gặp một vô hình
thấy vơi cơn gió chùng chình đang rơi

ù oa một cõi một đời
thản nhiên mây trắng tơi bời và trôi...



 Bên vòng tròn ca dao
Phạm Trọng Thanh

Cái sàng đánh bạn cái giần
Cái nia cái thúng ở gần cái nong
Cuối mùa quai hái vừa hong
Mẹ còn cặm cụi long đong giần sàng
Hạt thóc ướt hạt thóc vàng
Vòng vòng từ cánh đồng sang bên này
Gió nồm đánh đu chàng xay
Tiếng chày nặng chịch cám bay bời bời
Trời tròn gieo tiếng mưa vui
Dẻo thơm cay đắng ngọt bùi tròn xoay !
Khi nào mẹ được dừng tay
Bếp nồng rơm mới đỡ ngày lao dao
Giần sàng tay thấp tay cao
Mẹ ơi, có trận mưa rào đằng đông
Lại còn cơn giá cơn dông
Tháng ba đằng đẵng ngày trông lúa mùa
Trông ngang chùm sao tua rua
Xá cày đi trước đường bừa theo sau
Mẹ thầm lặng những đêm thâu
Giữa ba bề gió thổi nhàu chéo khăn
Cho con nhiều tháng nhiều năm
Cứ lo đêm vắng vầng trăng trước nhà
Hạt gạo lặn lội đường xa
Trên vai con giữa rừng già, mẹ ơi...
Lục bát cầu may
Bằng Việt

Biết đâu say đắm vẫn còn
Thoảng cơn gió lạ ,nắng dồn sang mưa,
Xế chiều, quay lại giữa trưa,
Ngậm ngùi nối lại thời chưa biết gì ...
Ngậm ngùi ư ? Ngậm ngùi chi ,
Ngậm ngùi xong để quên đi ngậm ngùi ...

Biết đâu sau lớp tro vùi
Ngón tay em có phép cời lửa lên,
Vô tình thoát tục thành tiên
Một đời Từ Thức, một duyên Giáng Kiều,
Viễn du thay kiếp bọt bèo
Chân mây, đầu sóng ...cũng liều, biết đâu !

Cuộc đời, đâu luận trước sau,
Biết đâu họa phúc, biết đâu đọa đầy ,
Nếu làm mây, cứ như mây,
Một mai tan xuống đất này, được không ?
Nếu em là kiếp bềnh bồng
Thì tôi vĩnh viễn phải lòng phù du,
Nếu em khoát mở sa mù
Thì tôi vĩnh viễn hóa bờ bến xa,
Cầu may...tới cõi giao hòa,
Cầu may có được ngôi nhà biết yêu !...


Con đi làm dâu
Đinh Đăng Lượng

Con về thành phố làm dâu
Nẻo xa lắm dốc, đường tàu nhiều ga
Bếp tầng một, ngủ tầng ba
Ngõ vào chật hẹp, lối ra đông người
Ăn kín miệng, nói giữ lời
Rể hiền, dâu thảo làm người Tràng An!
Mùa đông thiếu bếp nhà sàn
Gần hơn chớp biển, mưa ngàn lại xa
Làm ong thợ chốn phồn hoa
Biết đâu mật ngọt để mà nuôi nhau?
Tiếng gà đã nhắc canh thâu
Bản làng đã trắng sắc màu trời khuya
Một mình mẹ cũng sẻ chia
Vui lo khắc khoải dõi về nơi con



Dân ca
Đinh Đăng Lượng

Người về đêm hát dân ca
Lội qua bốn suối, băng qua bảy đèo
Khung trời đầy ắp trăng sao
Lời ca tiếng hát giấu sau nụ cười
'Hát đồng dao' của em tôi
'Hát cho trẻ ngủ' là lời chị ta
Vẫn là khúc hát dân ca
Mẹ già nhát mỗi lại là giao duyên
Lời xưa, chuyện cũ thần tiên
Bao đời nay vẫn cha truyền cho con
Vành trăng nán lại đỉnh non
Uống từng câu hát ngọt ngon thủa nào
Mây ngàn e ấp thung sâu
Đồi chồng núi vợ ngả đầu lặng yên
Trời khuya bản dưới mường trên
Chia tay trở lại khắp miền dân ca
Còn tôi như kẻ không nhà
Lang thang tìm khúc dân ca cho mình



Bọt nước
 Tác giả Chim Trắng

Bất ngờ ngọn gió xoay chiều
Diều chưa no gió thả liều sợi dây

Bỗng dưng sông nước lớn đầy
Thình lình sông cạn trải dày rong rêu

Chợt dâng mấy đợt thủy triều
Lòng nghe bụm nước cũng nhiều phù sa.

Dòng sông có thật không ta?
Ta về ta hỏi mình ba bảy lần.

Có không trước mặt con đường
Có không gặp gỡ, có lần chia tay ?




Cho sợi chỉ mềm
Chim Trắng

Gút tình ta mãi lần theo
Gỡ ra sợ rối lo diều đứt dây
Cho nên ta cứ buồn đầy
Cho nên người mãi loay hoay nỗi mình

Sợi dây như thể vô hình
Sợi dây như thế cố tình buộc ta.
Nén lòng căng đứt dây ra
Biết đâu sẽ hết xót xa trong lòng ?

Thơ đòi một khối buồn trong
Người thơ còn phải ròng ròng giọt đau
Phải chi sợi chỉ không màu
Cho ta đi trắng xưa... sau một mình.

Cửa tình như lỗ trôn kim
Cầu xin sợi chỉ cho mềm ... lọt qua !





Đỏ xưa
Tác giả Chim Trắng




Đắp cho ta kỷ niệm nào
Dày lên lớp lớp những xao xuyến lòng
Phượng ngày xưa đỏ như không
Áo ngày qua trắng chưa xong tuổi mình
Xa rồi... gọi mãi không tên
Không ai nhớ chẳng ai bền bĩ đâu !
Ôi tôi tóc đã trắng màu
Còn đem nhung nhớ cái màu đỏ xưa.
Lẽ gì thơ cứ người dưng

Phố trưa. Nghiêng võng nhớ rừng
Rừng giương mắt lá như chừng ngó ta
Ta nhìn ta, ngắm lại ta
Trái tim nói nhỏ... như là không em
Bần thần nửa nhớ nửa quên
Nửa em đâu đó nửa em biệt mù
Nửa chiều ướt đẫm chiến khu
Nửa trưa phố chợt mịt mù bụi, hoa !
Nửa ta như kẻ không nhà
Đong đưa cánh võng rừng xa thẳm rừng

Lẽ gì thơ cứ người dưng
Lẽ gì em, lẽ gì rừng mãi hoang !



Một đêm
làm kẻ xa nhà
 Tác giả Chim Trắng

Những ngày buồn thả chơi rong
Lắc lư võng nhớ về sông quê nhà
Nhìn chân nhớ thuở đi xa
Ngửa bàn tay nhớ cành hoa ven đường
Giật mình nhớ đất đai rung
Khói nhang cho nhớ não nùng thịt da.

Một đêm làm kẻ xa nhà
Một ta rừng thức một ta nhớ tràn
Muốn làm một kẻ tha hương
Đi đâu ư ? Những ngả đường đã qua

Buồn vui một góc quê nhà
Tha hương cho nhớ đâu là quê hương.





Mẹ ra Hà Nội
Lê Đình Cánh
  
Mẹ ra Hà Nội thăm con
Vừa trên tàu xuống chân còn run run
Áo nâu còn thẫm mưa phùn
Còn hoai vị cỏ sực bùn lúa non…
Sang đường tay níu áo con
Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều

Khoác vai mẹ, chiếc đẫy nghèo
Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay:
Đưa em trốn ngục những ngày
Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao
Đã từng mở giữa trời sao
Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo
Củ khoai bẻ nửa nắng chiều
Bờ mương thoai thoải dài theo công trường
Đưa con đánh Mĩ lên đường
Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà.
Bà ra bế cháu của bà
Những mong cùng ước lòng già hôm mai
Lên thang chẳng dám bước dài
Vào khu tập thể gặp ai cũng chào!
Lời ru bà thuộc thủa nào
Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa
Để hồn cháu có núi Nưa
Tiếng cồng Bà Triệu năm xưa vọng về
Lam Sơn rừng núi ba bề
Lũng Nhai vang mãi lời thề nước non
Trải bao sông cạn đá mòn
Còn con còn cháu thì còn cha ông
Để hồn cháu có dòng sông
Câu hò trên ngã Ba Bông sum vầy
Sào tre đêm gõ nhịp gầy
Ba khoang đò dọc chở đầy ước mong…

Mới xa đã nhớ ruộng đồng
Thương con mà chẳng đành lòng ở lâu
Run run mẹ bước lên tàu
Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.





Ngàn năm
có phải mây bay giữa trời

1.
Tháng năm thành phố đợi chờ
Mây như lụa mỏng khoác hờ trên vai
Gió như vừa uống rượu say
Tay ai đáp nhẹ trên vai của mình

2.
Tháng năm ve gọi bình minh
Mưa đâu chợt đến cho mình nhớ nhau
Hoa công chúa nở hôm nào
Anh ơi, "nhỏ" muốn nép vào bên anh

(
Tình yêu như nụ mầm xanh
Dám đâu hé tiếng cùng anh hở trời!)
Nụ cười còn dấu trên môi
Bờ mi còn khép những lời nhớ thương

3.
Tháng năm thành phố vắng sương
Cây đong đưa tóc chở ngàn phím tơ
Nắng mai tựa lũ trẻ thơ
Chạy trên đường phố - bâng quơ bên người

Tháng năm ngọt tiếng đưa nôi
Tháng năm bé ngủ trong lời mẹ ru
Tháng năm bến nước gọi đò
Lá bay như chuyện trong mơ hôm nào

4.
Tháng năm cây cao thật cao
Cho em bỗng nhỏ bên rào nhà ai
Gió che đâu mất tiếng mời
Mãi mà em chẳng biết người đứng bên

Tháng năm như con gió êm
Em chao cánh én bay lên giữa trời
Xin làm chiếc lá nhỏ thôi
Để cùng ai đó dạo chơi trên đường

5.
Thành phố đôi bờ nhớ thương
Mầm cây vừa nhú trong vườn nhà ai
Tình yêu cha mẹ trao tay
Ngàn năm có phải mây bay giữa trời

Lê Thị Kim 



Trăng nở nụ cười
Lê Đình Cánh



Đâu Thị Nở
Đâu Chí Phèo
Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao
Vẫn vườn chuối gió lao xao
Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền
Ả ngớ ngẩn
Gã khùng điên
Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người
Vườn sông trăng nở nụ cười
Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau
Giữa đời vàng lẫn với thau
Lòng tin còn chút về sau để dành
Tình yêu nên vị cháo hành
Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi





Ưng trăng
                           Hàn Mặc Tử
Tôi ngâm thơ trăng thơ trăng
Không ngờ gió mát phăng phăng bay về.
Sáng xanh đậu bức tranh đề,
Bông thơm hội ý bên lề chờ mong.
Tiếng ca nhẹ thỡn chưa vồng,
Bởi chưng huyền ảo còn lồng hương lên.
Chờ đày khí hậu còn nguyên,
Không ai chạm tới mà đền sao đang.
Tôi ưng quá! Tôi ưng nàng,
Nàng xa xa lắm, ơi nàng Trăng ơi!




Bến Hàn Giang
                           Hàn Mặc Tử

Này đây lời ngọc song song
Xin dâng muôn sóng tơ đồng chơi vơi
Xin dâng này máu đang tươi
Này đây nước mắt giọng cười theo nhau,
Mới hay phong vị nhiệm màu
Môi chưa nhấp cạn mạch sầu đã tuôn
Ớ Địch ơi, lệ có nguồn
Hãy chia bớt nửa nỗi buồn sang tôi
Hôm nay trời lửng lơ trời
Dòng sông ánh sáng sẽ trôi hoa vàng
Tôi ngồi ở bến Hàn Giang
Khóc thôi mây nước bàng hoàng súôt đêm.





Say nắng
                                                             Hàn Mặc Tử

Mặt trời mai ấy đỏ ong
Nàng tiên hóng mát trên hòn cù lao
Mùi xiêm thơm tựa sen ngào
Áo xiêm: nhuộm nắng hồng đào chưa khô
Bỗng trong im lặng như tờ
Hương gì ngan ngát giả đò say sưa
Gió ơi lại đấy mà ngừa
Tôi đứng xa lắm xin chừa tôi đi
Hồn tôi mắc cỡ là vì
Không quen thưởng thức cái gì ngất ngây
Như là ánh sáng vàng lay
Như thơ sắp sửa phô bày yêu đương
Nơi đây mây gió chán chường
Ý gì tiên nữ đo lường tình tôi
Tôi toan hớp cả ánh trời
Tôi toan đớp cả miếng cười trong khe.
(Trích tập Thơ điên)




HƯ VÔ
Huỳnh Thị Kiều Trang

Em như một chiếc thuyền trôi
Trên con sông lớn bời bời sóng xô
Nửa đời vẫn bến hư vô
Lệ vương sương phả đẫm mờ hoàng hôn

Chim bay mỏi cánh chập chờn
Nghiêng chao trong gió đơn buồn tiền phương
Mai về bên cội quê hương
Có ai chờ đợi cuối đường đón đưa

Cành hoa nở muộn mùa thưa
Trên đồng khô cạn chờ mưa hạ về
Khát dòng, cỏ cháy ven đê
Trên tay rụng xuống lời thề vỡ đôi

Câu thơ đau lặng giữa đời
Hồn theo ngàn lá về nơi cõi mờ
Xa xăm một thoáng mộng mơ
Trôi vào dĩ vãng ngủ nhờ vai thu.




KHÉP LÒNG
Huỳnh Thị Kiều Trang

Nửa đời xuân đã nhạt phai
Trầm tư đôi mắt u hoài tháng năm
Yêu đương vén chữ thăng trầm
Đoạn trường ngân khúc tơ tằm quyện sương

Cuối thu lá úa nhuộm đường
Vầng trăng xẻ nửa ánh hường chia đông
Tóc phai rũ sượi bên lòng
Mộng tình vương vấn bềnh bồng câu thơ!

Bến đời bồi lở giấc mơ
Xuân chan ý lệ đẫm bờ tim yêu
Phấn vương phải kiếp phận kiều
Đa mang sầu muộn tiêu điều sắc hương

Thế nhân cám cảnh vô thường
Vần thơ rạn nứt đau thương vết hằng
Sầu riêng oan nỗi nhọc nhằn
Đành thôi khép mộng đá vàng từ đây.






VÔ THƯỜNG PHẬN HOA
Huỳnh Thị Kiều Trang

Chiều nay gió bấc qua sông
Đong đầy thương nhớ người không quay về
Lối gầy cỏ cháy ven đê
Tay nâng ước vọng bên lề tìm xuân

Thu qua đông đến bao lần
Cạn ly cũng chẳng được phần say hương
Tình sầu muôn nẻo vì thương
Nhớ quên đâu dễ khiêm nhường lòng ta

Vô thường cõi định đời hoa
Chữ duyên chữ phận luôn là dây oan
Câu thơ gieo xuống bàng hoàng
Xót xa một kiếp lỡ làng tình vong!




Biết ơn ngọn lửa
 Nhà thơ Võ Quê
Biết ơn ngọn lửa dâng đời
Lửa tim nhân hậu lửa môi em hồng
Biết ơn ngọn lửa sắc không
Mỗi sát na mỗi cầu vồng âm dương
Biết ơn ngọn lửa đất thiêng
Âm thơm ngàn suối đỏ miền hoa yêu
Biết ơn ngọn lửa đò chiều
Dòng sông lấp lánh mái chèo gọi trăng
Biết ơn ngọn lửa hoa đăng
Níu ngàn sao xuống Hương giang tự tình
Biết ơn ngọn lửa bình minh
Ngày ngày hiến tặng dáng hình hoàng hôn
Biết ơn ngọn lửa sao hôm
Cho sao mai sáng ngọn nguồn nhân gian
Biết ơn ngọn lửa địa đàng
Mặt trời lên lửa hồi quang cung Hằng
Võ Quê



Một mình
Võ Quê

Đã quen nhân thế vô tình
Sông Hương trước mặt bóng mình đáy ly
Chim sâu hót gọi ngày đi
Lá bồ đề rụng không gì vương mang
Ban mai giữa cõi thiên đàng
Trường Tiền sương trắng tím trang thơ tình

*
Đã quen cùng Huế lặng thinh
Rơi vào sâu thẳm vô minh giọt đàn
Mặt trời vào ngọ nắng chang
Sáng trưng tâm thức ngỡ ngàng mắt trưa
Đài sen hiến tặng hương mùa
Về đâu từng sợi gió lùa tóc ai

*
Đã quen ánh nguyệt hiên ngoài
Đêm lên huyền hoặc liêu trai đất trời
Vườn trăng tôi một bóng tôi
Thơm trong lộc biếc bờ môi hôn mềm
Tình yêu bất tuyệt uyên nguyên
Tôi tìm hứng trái nghiệp duyên một mình
(02.11.2006)


Một ngày Đông Hà
Võ Quê
Tinh khôi hoa cỏ ươm hương tặng đời
Nụ hôn thơm mỗi môi cười
Em tìm ai giữa cõi người đa đoan

Đông Hà gió sớm mơn man
Tự tình sông Hiếu sóng tràn bờ yêu
Nón nghiêng hứng cả ánh chiều
Em đang ngược nắng bóng treo gợn buồn

Đông Hà khoảnh khắc mưa tuôn
Cơn giông ngày hạ chớp nguồn biển xa
Thương bông khế tím hiên nhà
Em chờ ai nỗi niềm xưa sang mùa

Đông Hà hiền thục trang thơ
Con trăng khuyết giữa đôi bờ sắc không
Mân mê chéo áo xuân hồng
Em về bất chợt rối lòng người đi



Tạ ơn nước mắt nụ cười
 Võ Quê
Tôi xin thầm tạ ơn người
Tặng tôi nước mắt nụ cười ngày qua
Cánh hồng vẫn thắm đài hoa
Đóa sen hưong vẫn mượt mà búp xanh
Một mai tôi có lìa cành
Ơn người xin giữ ngọn ngành riêng tôi
Tôi xin thầm tạ ơn người
Tặng tôi nước mắt nụ cười thương yêu
Cầm bằng tôi một cánh diều
Tả tơi trước gió trong chiều biệt ly
Khổ đau bởi quá yêu vì
Thì thôi sắc tướng níu chi bên lòng
Tạ ơn nước mắt người trong
Soi vào tôi những sầu đong cuộc đời
Tạ ơn tặng phẩm nụ cười
Dẫn tôi vào một cõi người bao dung


Cánh diều xuân
Võ Quê

Hóa thân thành một cánh diều
Bay cao soi bóng Ninh Kiều quê hương
Diều no gió lộng yêu thương
Không gian hào phóng diều vương nắng ngời
Ung dung diều lượn thảnh thơi
Vi vu tiếng sáo ngân lời bao dung
Ước mơ, khát vọng vô cùng
Diều lên vượt khỏi mê cung cõi người
Diều lên nương sợi tơ trời
Bay cao cao mãi gọi mời mùa xuân


Thì ra
 Võ Quê
Người về lạ lẫm bên tôi
Người đi gần gũi từng lời bình yên
Thì ra trong cõi muộn phiền
Nụ cười lấp lánh chút duyên tặng đời

Người về mà lại xa xôi
Nhị hồ lạc khúc bồi hồi thu khuya
Thì ra trong cái chia lìa
Chỉ hồng thầm buộc sao Khuê sợi tình

Nửa đêm đối bóng chính mình
Thương từng chiếc lá lặng thinh rời cành
Thì ra từ nỗi mỏng manh
Ta vừa dan díu ngọn ngành trong nhau

Người về lặng lẽ thế sao
Người đi đuôi mắt gửi vào mắt ai
Mùa xuân trăng ngự hiên ngoài
Thì ra còn một ánh trời dành riêng...



Thuyền đầy thiên nhiên

Bềnh bồng chợ nổi Cái Bè
Lênh đênh sông nước tôi về Tiền Giang
Giọng em lảnh lót chào hàng
Gọi niềm vui giữa dọc ngang tàu, thuyền
Nụ cười má lúm đưa duyên
Vàm sông gợn sóng hương vườn lung linh
Tìm nhau chợ nổi nên tình
Khách thương hồ gặp bạn mình cố nhân
Tiếng gà âm sắc ngày xuân
Xôn xao cây trái ươm mầm yêu thương
Tôi người núi Ngự sông Hương
Ngẩn ngơ chợ nổi miệt vườn miền Tây
Sông lồng bóng nắng bèo mây
Hồn quê nặng những thuyền đầy thiên nhiên

Võ Quê





VÌ ĐÂU
           Nguyễn Tường Thuỵ


Vì đâu em má cứ hồng
Làn môi cứ thắm cho lòng ngẩn ngơ...
Vì đâu anh tập làm thơ
Trái tim anh hóa dại khờ. Vì đâu?
Quê nhà trắng những đêm thâu
Chân trời góc bể vẫn đau đáu lòng
Vẫn mơ một mái trùng phùng
Đợi anh em nhé! Xin đừng quên nhau.

Phạm Minh Giắng
Lấy chữ của VÌ ĐÂU cảm tác

VẪN MƠ
Vì môi má thắm ngẩn ngơ
Vì khờ dại tập làm thơ cho lòng
Đợi anh em nhé, má hồng
Đừng quên nhau, mái trùng phùng vẫn mơ

Nguyễn Đức Tuỳ
VÌ AI
(Hoạ thơ "VÌ ĐÂU" của Nguyễn Tường Thụy)
Vì ai vướng sợi tơ hồng
Gặp nhau chi để cho lòng ngẩn ngơ
Vì ai đời bỗng nên thơ
Cho anh khuya sớm thẩn thờ đâu đâu
Đêm trường thao thức canh thâu
Bóng hình ai nỡ cho nhau rối lòng
Phải chăng duyên nợ tương phùng
Mong tròn giấc mộng đi cùng bên nhau.
Cuộc đời có mấy bon chen
Có yêu mấy lượt ...Có quen mấy lần
Tim …Thì chỉ một bâng khuâng
Trao em rung động cho lần đầu tiên .
Vì đâu đeo đẳng muộn phiền
Đi vay khao khát ,đong miền ngu ngơ
Tháng ngày đau đáu câu thơ
Buông mùng sáu tám, đắp tơ nhện buồn…
MINH TUẤN
Phạm Văn Tự
ĐẦY VƠI
( Hoạ thơ "Vì đâu" của N.T.T)
Đầy vơi vui chẻn rượu hồng
Một lần say để sóng lòng lơ ngơ !
Hồn say sáng tỏ ý thơ
Thuyền trăng lơ lửng, bến bờ nơi đâu ?
Chén tình ngồi lặng canh thâu
Cõi nhân trần thế nặng sâu thức lòng...
Phận duyên bạn hữu tương phùng
Túi thơ bầu rượu... say...cùng có nhau !

MINH TUẤN
THÂN HỌA VỚI ĐỒNG HƯƠNG NGUYỄN TƯỜNG THỤY BÀI VÌ ĐÂU NHÉ.CHÚC BẠN VUI
BUÔNG MÙNG
Vì đâu tim hóa trái sầu
Bơ vơ đôi mắt thấm màu tàn canh
Vì đâu duyên nợ chẳng thành
Cho dang dở cõi mộng dành cho em .
Cuộc đời có mấy bon chen
Có yêu mấy lượt ...Có quen mấy lần
Tim …Thì chỉ một bâng khuâng
Trao em rung động cho lần đầu tiên .
Vì đâu đeo đẳng muộn phiền
Đi vay khao khát ,đong miền ngu ngơ
Tháng ngày đau đáu câu thơ
Buông mùng sáu tám, đắp tơ nhện buồn…
HÔN CON NGÀY XUẤT GIÁ
          Phạm Nhật Quỳnh


Ngày mai con bước theo chồng
Vu quy pháo đỏ, rượu nồng men cay
Chỉ còn có một đêm nay
Mẹ ru con ngủ trước ngày tiễn đưa.
Nụ hôn này của ngày xưa
Còn nồng hương vị như vừa hôm qua
Ngày con cất tiếng oa oa
Hôn con, hạnh phúc vỡ òa trên môi.
Thoảng qua hăm mấy năm trời
Vòng tay của mẹ chẳng rời xa con
À ơi! đêm đã không còn
Tiễn con mẹ một nụ hôn theo chồng.
Đặt lên đôi má xuân hồng
Nầy đây tất cả tấm lòng mẹ trao
Rưng rưng ngấn lệ hoen trào
Chợt nghe hạnh phúc tan vào tim nhau.

Họa bài: “HÔN CON NGÀY XUẤT GIÁ”
Khuyên con
                                             Lương Văn Đức
Ngày mai con sẽ lên đôi
Từ chốn xa lạ thành nơi vợ chồng
Cũng điều mẹ đợi cha mong
Cũng điều sâu thẳm đáy lòng cha lo

Mong con gặp chốn con chờ
Mong thuyền con cập bến bờ con yêu
Rồi mai những sớm những chiều
Mong con nhớ lấy những điều cha khuyên

Giữ điều làng dưới xóm trên
Giữ tình bè bạn giữ nền gia phong.



Họa bài
HÔN CON NGÀY XUẤT GIÁ
                                        Phạm Minh Gắng
Nước mắt mẹ, nước mắt con
Chung nguồn sung sướng trong nguồn tràn ra
Vẹn tròn hạnh phúc nở hoa
Đừng về ngủ với mẹ già nữa con.


Cảm nghĩ khi đọc bài: “HÔN CON NGÀY XUẤT GIÁ”
của Phạm Nhật Quỳnh
Tôi rất xúc động khi đọc bài thơ này.
Tác giả đã dùng những từ ngữ, hình ảnh rất giản dị mà chân thành, thiêng liêng tình mẫu tử
Cảm ơn tác giả đã cho thưởng thức bài thơ hay đến thế.
Tôi cũng xin cộng hưởng với tác giả đôi dòng nhé:
Tiễn con, lòng mẹ nghẹn ngào
Yêu thương, hạnh phúc dâng trào đầy vơi
Mừng con vừa lứa, đẹp đôi
Thương con giờ sắp xa rời vòng tay
Theo chồng, xa mẹ hôm nay
Thiêng liêng trao nụ hôn này cho con

 Bình bài thơ: “HÔN CON NGÀY XUẤT GIÁ”
Của phạm Nhật Quỳnh
                                                 Dương Phương Toại
Bài lục bát thật xúc động về tình mẹ con trong ngày con gái vu quy. Có lẽ trên đời này chỉ có mẹ là hiểu hết tất cả những gì máu thịt của đứa con gái mà mẹ mang nặng đẻ đau:
                                       Thoảng qua hăm mấy năm trời
                           Vòng tay của mẹ chẳng rời xa con...
          
 Ngày mai con theo chồng mà hôm nay sao lòng mẹ xao xuyến lạ lùng, với cảm giác dâng trào: cầm vàng đây trên tay song vàng ấy như sang tay người khác, con về nhà người khác làm dâu. vừa tràn trề hạnh phúc vừa âu lo, bâng khuâng, bồn chồn khó tả. Bông hồng vừa nở trên cây, muốn ngắm mãi, giữ mãi mà không thể giữ mãi. Mẹ đành hôn lên cánh hoa thắm thiết như hít thở làn hương tươi mới, đầy đặn để ngày mai có người đến hái, chàng hoàng tử đến hái. Mẹ muốn bông hoa hồng tinh khôi cho cuộc đời lộng lẫy. Chỉ khoảnh khắc nữa thôi, con gái sẽ rời xa vòng tay mẹ, rời xa mảnh vườn cha mẹ chăm sóc hàng ngày để về với chân trời hạnh phúc mới. Ôi thật nao lòng và thảng thốt khi:
                                     À ơi! đêm đã không còn
                             Tiễn con mẹ một nụ hôn theo chồng.
       
Cái cảm xúc lần cuối khi bông hồng xa khu vườn thân yêu, xa cội gốc quê nhà thật đắm đuối. Mẹ trao tất cả dáng con, hồn con-một sản phẩm trọn vẹn như viên ngọc toàn bích của trời mà cha mẹ chăm bẵm, giáo dưỡng bấy nay:
                                   Đặt lên đôi má xuân hồng
                              Nầy đây tất cả tấm lòng mẹ trao
                                     Rưng rưng ngấn lệ hoen trào
                            Chợt nghe hạnh phúc tan vào tim nhau.
         
Hai niềm hạnh phúc đã tan hòa tim nhau, trong nhau làm một, thiêng liêng, trân trọng và tin yêu. Khi có đứa con gái đi lấy chồng, người mẹ bây giờ mới càng hiểu tấm lòng, càng hiểu cảm xúc nối dài của những người mẹ xưa. Sợi chỉ hồng ấy xuyên suốt cuộc đời một gia đình phát triển, một xã hội văn minh.
        Đây là một bài thơ hay về một niềm hạnh phúc lớn lao trong đời Mẹ, đời con!




TRĂNG SUÔNG

                            Hạnh Ly


Chênh vênh một mảnh trăng suông
Có treo hết những nỗi buồn thế nhân?

Nửa đời, thấm mỏi bàn chân
Mới hay mặt đất ngỡ gần hóa xa.

Nhẹ rơi chiếc lá hiên nhà
Ngửa bàn tay, thấy trời xa bỗng gần

Trăng suông. Suông bóng bao lần
Tình suông nửa cõi hồng trần. Đợi anh...


Häa bµi Tr¨ng su«ng cña H¹nh Ly
                                         H¶i Th¨ng
Tr¨ng su«ng mµ cã em kÒ
Mái ch©n, chån gèi ra vÒ vÉn su«ng
H«m sau vÉn ¸nh tr¨ng su«ng
NhËn lêi nguyÖn ­íc, tr¨ng su«ng hãa trßn

§· ®¬n c«i chí ng¾m tr¨ng
Nh×n c¶nh chÞ H»ng víi Cuéi dung gi¨ng
Cßn g× lµ m¶nh tr¨ng r»m
Nhê m©y che hé, cho tr¨ng ®ì trßn




Phạm Minh Giắng
CẢM TÁC

Mảnh trăng không phải trăng tròn
Là con thuyền chở nỗi buồn thế nhân
Đường tình dẫu mỏi bàn chân
Vẫn không dừng bước hồng trần đa mang

Nguyễn Quý

Chỉ ta mới hiểu cội nguồn thi nhân

Men say say tận bàn chân
Chao nghiêng trời đất, lời gần lời xa...

Cô đơn hiu quạnh, nhớ nhà
Giọt cay giọt đắng...tình xa đâu gần ?

Rượu xuông nâng chén bao lần
Tỉnh...say... say tỉnh...bụi trần thương anh...

PhạmVăn Tự

Tình
Ngỡ rằng tình vẫn là tình
Ngờ đâu tình lại là tình đẩy đưa
Rượu tàn tình trót đong đưa
Tình nay chẳng thấy ,tình xưa một mình.
Ngỡ rằng tình vẫn là tình
Ngờ đâu tình lại là tình đầu môi
Rượu tàn tình cũng chơi vơi
Tình em trong rượu, tình đời trong thơ.


PhạmVăn Tự

RƯỢU SUÔNG
( Hoạ thơ" Trăng suông" của H.L )

Ngồi buồn vui với rượu suông
Chỉ ta mới hiểu cội nguồn thi nhân

Men say say tận bàn chân
Chao nghiêng trời đất, lời gần lời xa...

Cô đơn hiu quạnh, nhớ nhà
Giọt cay giọt đắng...tình xa đâu gần ?

Rượu xuông nâng chén bao lần
Tỉnh...say... say tỉnh...bụi trần thương anh...

Minh Tâm

THƯỞNG NGUYỆT
Trăng suông nên mới hóa buồn
Thi nhân họa khúc thơ suông tình chờ

Cho tôi được ngắm trăng mơ
Cho tôi được nhé! Vu vơ đôi lời

Ánh trăng trãi tấm lụa ngời
Dòng sông uốn lượn trao lời cùng trăng

Trăng vàng sáng nét mi cong
Dòng sông chếnh choáng tình nồng men say

Hiii… hạnh Ly ơi! MT thấy bạn buồn quá chọc tí cho vui, đừng giận nha! Cảm ơn bạn rất nhiều!




















Nối những chữ vui thành câu lục bát

Hân hoan niềm nỡ tuyệt vời
Khoan thai thoải mái thảnh thơi thanh nhàn
Mê ly thú vị khang trang
Diệu kỳ thư thả bình an đã đời
Điệu đàng khinh khoái chịu chơi
Hào hoa bát ngát ngất trời vô tư
Hạnh phúc sung sướng vi vu
Ngon lành ngất ngưởng êm ru tràn trề
Lâng lâng mê mẩn phủ phê
Cười vui hoan hỉ hoạt kê dâng trào…
Võ Quê


Nối những chữ buồn thành câu lục bát
Thiết tha da diết bồi hồi
Bâng khuâng man mác ngậm ngùi chứa chan
Lạnh lùng héo hắt phũ phàng
Lẻ loi đơn độc bẽ bàng ủ ê
Đìu hiu bức bối não nề
U hoài trăn trở chán chê âu sầu
Trái ngang nhức nhối đớn đau
Mõi mòn tức tuởi rầu rầu ỉ ôi
Tái tê rũ rượi rã rời
Héo hon tan tác tơi bời oái ăm
Võ vàng lặng lẽ âm thầm
Nhiêu khê bề bộn dùng dằng phân vân
Rối ren trằn trọc nhập nhằng
Dở dang bèo bọt cách ngăn lỡ làng
Nghi ngờ ái ngại hoang mang
Đắn đo hồ hộp thở than muộn phiền
Tội tình hoảng loạn đảo điên
Ngỡ ngàng đòi đoạn ngã nghiêng lỡ làng
Nhọc nhằn đày đọa đa đoan
Băn khoăn bối rối bàng hoàng chênh vênh...

Võ Quê

Nữ sinh Đồng Khánh

Mai Văn Hoan
Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa
Xui hoàng hôn tím trang thơ học trò
Nữ sinh Đồng Khánh qua đò
Xui lòng Hương cất giọng hò xa xôi

Nữ sinh Đồng Khánh dạo chơi
Phấtn thông vàng rải ngát trời Thiên An
Trống trường Đồng Khánh vừa tan
Trên đường phơi phới từng đàn bướm bay

Gió vờn tà áo khẽ lay
Nữ sinh Đồng Khánh thơ ngây mỉm cười
Bóng ai  khuất nẻo phố rồi
Vô tư đâu biết có người nhìn theo

Âm thầm một cánh phượng gieo
Nữ sinh Đồng Khánh trong chiều nhặt hoa
Bâng khuâng ngắm áng mây qua
Cảm thông một cánh chim xa lẻ đàn

Mùa thu thả chiếc lá vàng
Nữ sinh Đồng Khánh mơ màng lắng nghe
Trầm ngâm trong quán cà phê
Nhạc buồn chạm mái tóc thề chấm vai

Nữ sinh Đồng Khánh nhớ ai
Mi cong khẽ chớp mắt nai thẫn thờ
Đâu còn là chuyện ngày xưa
Nữ sinh Đồng Khánh bây giờ là em.

Giếng làng
Mai Văn Hoan

Về quê, tìm lại giếng làng
Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân

Bao phen trời đất xoay vần
Làng xưa, xóm cũ mấy lần đổi thay.
Nép sau vườn dưới vòm cây
Lòng băn khoăn : có phải đây giếng làng ?

Hỡi người duyên số dở dang
Nhớ chăng đêm ấy… trăng vàng chung soi
Lõ tay thương chiếc gàu rơi
Làm xao lòng giếng… một thời vụng yêu

Giếng làng thuở ấy trong veo
Chia khắp thiên hạ: giàu, nghèo, hèn, sang…
Gái làng tắm nước giếng làng
Tóc càng óng mượt, da càng mịn thơm!

Bây giờ nước có đầy hơn
Chạnh buồng tên giếng không còn từ lâu
Bâng khuâng cầm lại dây gàu
Buông tay nhè nhẹ… sợ đau giếng làng.


Rượu quê
Mai Văn Hoan
Lâng lâng nâng chén rượu quê
Uống mừng gặp gỡ bạn bè, anh em...
Đã từng nếm rượu trăm miền
Vẫn không quên được chất men quê nhà !
Rượu quê không trộn, không pha
Mới đôi ba chén mà ngà ngà say
Chuyện xưa lẫn với chuyện nay
 Được thua, khôn dại, rủi may, vui buồn...
Men quê đã ngấm vào hồn
Rưng rưng : còn, mất...chập chờn: hợp, tan...
Mặc đời bao nỗi  bi, hoan...
Gặp nhau ta cứ  say tràn cung mây !
Khi nào về với cỏ cây
Chỉ xin rưới: một chén đầy...rượu quê !

Trăng Nguyên tiêu
Mai Văn Hoan
Khẽ khàng gấp lại trang Kiều
Ngẩng lên...chợt thấy trăng treo trước rèm !
Ngày xưa: thơ, rượu và em
Cành thông lấp lánh sương đêm Ngự Bình
Hàng trăm ngọn nến lung linh
Trăng cùng thức với chúng mình Nguyên tiêu...
Trước rèm, vẫn mảnh trăng treo
Sương gieo... hay giọt Nguyên tiêu Ngự Bình ?
Thơ lục bát thuận nghịch độc
(Phạm Đan Quế)
Kính gửi BBT lucbat.com!
Tôi là Phạm Đan Quế, tác giả một số sách viết về Truyện Kiều, trong đó có quyển Truyện Kiều đọc ngược với 3.254 câu Kiều xếp ngược từ câu cuối lên câu đầu tiên của Truyện Kiều. Tôi đã có những nghiên cứu đầu tiên về Thơ lục bát thuận nghịch độc. Nay xin gửi tới các bạn yêu thơ lục bát một loại hình thơ mới để các bạn cùng làm quen và chia sẻ. Đây là một loại thơ có thể chứng minh tính độc đáo và kỳ diệu của ngôn ngữ Việt. Nay xin gửi tới BBT để đưa lên Lucbat.com và mong loại thơ độc đáo này của Việt Nam sẽ phát triển thêm trong tương lai.
Kính thư!


Thơ thuận nghịch độc đã có ở Việt Nam từ trước năm 1720 với Tiến sĩ Nguyễn Quý Đức (1648-1720), người xã Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội, trong bài Vịnh Chùa Trấn Quốc. Sau đó là Nguyễn Huy Lượng (? – 1808) với bài Cảnh Tây Hồ, Phạm Thái (1777-1813) với bài Đề mỹ nhân đồ, Tự Đức (1829-1883) với bài Xuân hứng…
Đến những năm bảy mươi của thế kỷ 20 mới chỉ tìm được 15 bài, tất cả đều là thơ thất ngôn bát cú thuận nghịch độc. Có thể các nhà nho xưa vốn sành và rất giỏi về thơ cũng có nhiều người làm loại thơ này nhưng tài liệu hiện còn không thấy ghi lại.
Thơ thuận nghịch đôc rất khó làm vì phải viết  được những câu thơ đọc xuôi, đọc ngược đều thành câu, đúng luật, đúng vần và trọn nghĩa. Chỉ  những nhà nho có tài dụng công tiểu sảo mới làm nổi. Các nhà thơ thuộc lớp tân học ít ai làm và cũng không thích làm loại thơ này. Trong Phong trào thơ mới, cũng chỉ có thi sĩ Hàn Mặc Tử khi đi vào thơ Đường luật đã làm hai bài thất ngôn bát cú là bài Đi thuyền và Cửa sổ đêm khuya (Thơ lục chuyển).
Khi chuẩn bị cho ra mắt quyển Truyện Kiều đọc ngược, chúng tôi đã để ý đến thơ thuận nghịch độc và bước đầu thử nghiệm một số bài thơ lục bát, song thất lục bát và giới thiệu trên tạp chí Thế giới mới. Tuy không hay làm thơ nhưng trong nghiên cứu chúng tôi có viết một số bài thơ thuận nghịch độc theo các thể loại khác nhau. Trong giao lưu với các bạn thơ, chúng tôi đã nêu thành những công thức cụ thể của từng loại.
Trong bài này chỉ xin giới thiệu sau đây ba loại thơ  lục bát thuận nghịch độc với quy cách làm cụ thể và những thí dụ minh họa.
 
1. THƠ LỤC BÁT THUẬN NGHỊCH ĐỘC THEO TỪNG KHỔ    
Thơ  lục bát thuận nghịch độc vừa phải luật thơ lục bát lại phải có khả năng đọc ngược, ta hãy xét 2 câu:
    TRIỀU DÂNG 
    Ngàn mây vạc lướt xiêu xiêu
    Triều dâng vang tiếng gác chèo sương tan
    Đọc ngược từng chữ câu thứ nhất rồi đến câu thứ hai:
    Xiêu xiêu lướt vạc mây ngàn
    Tan sương chèo gác tiếng vang dâng triều
    (Tạp chí Thế giới mới số 704) 
    Qua bài này ta thấy về luật, hai câu lục bát phải như  sau: 
    Câu lục
     
    B1
    B
    T
    T
    B
    B2
     
    Câu bát
    B2
    B
    B1
    T
    T
    B2
    B
    B1

B, T là bằng (B), trắc (T) bắt buộc, những chữ B có số ở sau (B1, B2) là những chữ phải cùng vần theo nhóm. Riêng câu bát, chữ B2 và B1 ở đầu câu tuy cùng bằng không cùng vần nhưng không được cùng một thanh (chữ này dấu huyền thì chữ kia không dấu và ngược lại – tan và chèo). Giữa chữ B1 và B2 ở cuối câu cũng vậy, cùng bằng nhưng không được cùng một thanh (vang và triều). Nhìn bảng trên, về hình thức ta thấy khá đối xứng, 2 chữ trắc ở giữa cả 2 câu, còn lại toàn vần bằng
Thơ lục bát thuận nghịch độc thường phải có vài ba khổ để nêu được đủ ý của mình. Trường hợp này các khổ thơ phải nối vần được với nhau, sau đây là một thí dụ (Những câu thơ đọc ngược in bằng chữ nghiêng): 

TRĂNG THU TÂY HỒ
Phạm Đan Quế

1. Chờ trăng gió lộng Hồ Tây
Đầy vơi thơ thẩn khách say trăng mờ
Tây Hồ lộng gió trăng chờ
Mờ trăng say khách thẩn thơ vơi đầy
2. Sang thu ửng ráng trời mây
Bay trầm vàng ánh tháng ngày quê hương
Mây trời ráng ửng thu sang
Hương quê ngày tháng ánh vàng trầm bay
3. Vui buồn vẫn thuở thơ ngây
Cay chua bùi ngọt... đắm say bao đời
Ngây thơ thuở vẫn buồn vui
Đời bao say đắm... ngọt bùi chua cay
4. Quang mây rực sáng Hồ Tây
Say mê tràn ngập ngất ngây thu vàng
Tây Hồ sáng rực mây quang
Vàng thu ngây ngất ngập tràn mê say...
...Chờ trăng gió lộng Hồ Tây
Đầy vơi thơ thẩn khách say trăng mờ...
(Tạp chí Thế giới mới số 714)



HƯƠNG QUÊ
(Lục bát thuận nghịch độc theo từng khổ thơ)

Đầy vơi nhớ tiếc mênh mông
Trông vời ngày tháng nhớ mong mai rày
Mông mênh tiếc nhớ vơi đầy
Rày mai mong nhớ tháng ngày vời trông
Đời xuân trả nợ tơ lòng
Mong chờ sùi sụt ngóng trông ngùi ngùi
Lòng tơ nợ trả xuân đời
Ngùi ngùi trông ngóng sụt sùi chờ mong
Trời mây trải rộng quê hương
Trường xuân tươi thắm chiếu gương ngời ngời
Hương quê  rộng trải mây trời
Ngời ngời gương chiếu thắm tươi xuân trường
Ngày ngày tháng tháng yêu thương
Trường canh ngây ngất vấn vương đêm ngày
Thương yêu tháng tháng ngày ngày
Ngày đêm vương vấn ngất ngây canh trường
(Tạp chí Thế giới mới số 710)


 2. THƠ  LỤC BÁT TẢ  HỮU THUẬN NGHỊCH ĐỘC    
Thơ lục bát tả hữu thuận nghịch độc vừa phải theo đúng luật thơ lục bát lại phải có thể đọc ngược từng câu từ trái sang phải và từ phải sang trái. Ta hãy xét bài thơ sau đây:
PHÚC LỘC XUÂN

Xuân sang lộc phúc chan hòa
Lời trao nhân nghĩa nở hoa ân tình
Người xa mộng ước hương quỳnh
Mây hồng ngời rạng bóng hình
quê hương
Say mê ước hẹn yêu thương
Đài hoa ngây ngất quyện hương Tây Hồ
Mai vàng dãi nắng mong chờ
Đào hoa lơi lả cợt đùa hương xuân

ĐỌC NGƯỢC TỪNG CÂU

Hòa chan phúc lộc sang xuân
Tình ân hoa nở nghĩa nhân trao lời
Quỳnh hương mộng ước xa người
Hương quê hình bóng rạng ngời
hồng mây
Thương yêu hẹn ước mê say
Hồ Tây hương quyện ngất ngây hoa đài
Chờ mong dãi nắng vàng mai
Xuân hương đùa cợt lả lơi hoa đào
(T/cThế giới mới số 723, Xuân Đinh Hợi)
Có thể đọc tiếp bài thơ đọc ngược này
(Phải sang trái, trên xuống dưới).      
Qua bài này ta thấy về luật, hai câu lục bát phải như sau:   

Câu lục

B1
B
T
T
B
B2

Câu bát 
B3
B
B1
T
T
B2
B
B4
Câu lục

B3
B
T
T
B
B4

Câu bát 
B5
B
B3
T
T
B4
B
B6
Câu lục

B5
B
T
T
B
B6

Câu bát 
B7
B
B5
T
T
B6
B
B8






B, T là  bằng (B), trắc (T) bắt buộc, những chữ B có số  ở sau (B1, B2…) là những chữ phải cùng vần theo nhóm. B3, B4… cùng vần với những chữ đầu và cuối hai câu lục bát tiếp theo (Tức câu 3 và 4). Riêng câu bát, chữ B3, B1… ở đầu câu hay B2, B4… ở cuối câu tuy cùng bằng không cùng vần nhưng không được cùng một thanh (chữ này dấu huyền thì chữ kia không dấu và ngược lại – hoa và tình…). Nhìn bảng trên, về hình thức ta thấy khá đối xứng, 2 chữ trắc T ở giữa các câu, còn lại toàn vần bằng B.
Thơ lục bát thuận nghịch độc thường phải có vài ba khổ để nêu được đủ ý của mình, các khổ thơ phải nối vần được với nhau như thí dụ ở trên.

*** 
CHIỀU HỒ  TÂY
(Lục bát tả hữu thuận nghịch độc)

Hồ Tây sóng vỗ xa khơi
Chèo ai lơ lửng nổi trôi mây ngàn
Chiều thu vẳng tiếng hò khoan
Hương thơm ngào ngạt chứa chan
men nồng
Sương giăng trải rộng mênh mông
Mờ trăng hương khói thuỷ chung ân tình
Mưa rơi biển sóng bồng bềnh
Đầy vơi hờ hững bóng hình ngây thơ

TÂY HỒ CHIỀU
(Đọc ngược)

Khơi xa vỗ  sóng Tây Hồ
Ngàn mây trôi nổi lửng lơ ai chèo
Khoan hò  tiếng vẳng thu chiều
Nồng men chan chứa ngạt ngào
thơm hương
Mông mênh rộng trải giăng sương
Tình ân chung thuỷ khói hương trăng mờ
Bềnh bồng sóng biển rơi mưa
Thơ ngây hình bóng hững hờ  đầy vơi
(Tạp chí Thế giới mới số 726)

3. THƠ  LỤC BÁT THUẬN NGHỊCH ĐỘC THEO ĐÚNG NGHĨA       
Thơ lục bát thuận nghịch độc theo đúng nghĩa – tức là đọc từ đầu đến cuối bài rồi lại đọc từ cuối trở lên thì có hai cách:  
A- Bài lục bát có số câu thơ lẻ kết thúc bằng câu lục để có thể đọc ngược từng câu từ cuối trở lên đầu theo công thức:  
Câu lục 1

B1
B
T
T
B
B2

Câu bát 1
B1
B
B3
T
T
B2
B
B4
Câu lục 2

B3
B
T
T
B
B4

Câu bát 2
B3
B
B5
T
T
B4
B
B6
Câu lục 3

B5
B
T
T
B
B6

Câu bát 3
B5
B
B7
T
T
B6
B
B8…
Câu lục 4

B7
B
T
T
B
B8











MƯA RƠI

Mưa rơi lạnh vắng xa người
Thờ thẫn thương nhớ cảm hoài
trào dâng
Trường canh gió thoảng lâng lâng
Hương quê gìn giữ núi rừng mông mênh
Duyên tơ đượm thắm hương quỳnh
Thêm say chiều sớm bóng hình chờ trông
Yêu thương mãi nguyện thủy chung



ĐỌC NGƯỢC

Chung thủy nguyện mãi thương yêu
Trông chờ hình bóng sớm chiều
say thêm
Quỳnh hương thắm đượm tơ duyên
Mênh mông rừng núi giữ gìn quê hương
Lâng lâng thoảng gió canh trường
Dâng trào hoài cảm nhớ thương thẫn thờ
Người xa vắng lạnh rơi mưa

B- Bài lục bát có số câu thơ chẵn thì câu bát cuối phải cắt ra 6 chữ thành câu lục, 2 chữ còn lại được nối liền với 6 chữ của câu lục thành câu bát… – thì không thể theo đúng luật bằng trắc thông thường mà phải dùng biến thể và công thức của một bài thơ lục bát thuận nghịch độc có thể sẽ như sau:  


Câu lục 1

B
T
B1
T
T
B2

Câu bát 1
B3
T
B1
T
T
B2
T
B4
Câu lục 2

B1
T
B3
T
T
B4

Câu bát 2
B5
T
B3
T
T
B4
T
B6
Câu lục 3

B3
T
B5
T
T
B6

Câu bát 3…
B7
T
B5
T
T
B6
T
B…








Cũng có thể một số chữ có thay đổi chút ít, nhưng những chữ cùng vần bằng là bắt buộc. Xin nêu ở đây một thí dụ, dấu - trong câu bát là để ngắt ra câu lục khi đọc ngược:  

XUÂN TÌNH MỘNG

Ngời sắc xuân liễu thướt tha
Hò hẹn - thân lẻ dáng hoa tím chiều
Trăn trở hình bóng dấu yêu
Tha thiết - tình mộng ước trào ý dâng
Canh thâu ngời rạng ánh dương
Đào hoa - lơi lả khói sương mơ chiều


ĐỌC NGƯỢC

Chiều mơ sương khói lả lơi
Hoa đào dương ánh rạng ngời thâu canh
Dâng ý trào ước mộng tình
Thiết tha yêu dấu dáng hình trở trăn
Chiều tím hoa bóng lẻ thân
Hẹn hò tha thướt liễu xuân sắc ngời

4. THƠ LỤC BÁT CHUYỂN THÀNH THẤT NGÔN BÁT CÚ       
Xin giới thiệu sau đây là bài thơ lục bát độc đáo của chúng tôi có thể chuyển thành thất ngôn bát cú :

CHÈO BẾN LẠNH

Bến bờ quen lạ thẳm xa
Nhặt khoan sóng nổi trôi hoa giọng hò
Sông xanh sương khói lững lờ
Hương thơm biển sáng
ngọc ngà mới dâng
Mộng tình dáng liễu gió sương
Bóng chèo gầy đẩy mái buông chiều  tà
Mênh mông lơi lả đợi chờ
Chứa chan lạnh vắng mịt mờ xứ xa.

CHUYỂN THÀNH THẤT NGÔN BÁT CÚ

Quen lạ giọng bờ bến thẳm xa
Nhặt khoan hò sóng nổi trôi hoa
Sông xanh dâng hững hờ sương khói
Biển sáng hương thơm
mới ngọc ngà
Tình mộng gió sương gầy dáng liễu
Bóng buông chèo mái đẩy chiều tà
Mênh mông vắng đợi chờ lơi lả
Chan chứa lạnh mờ mịt xứ xa
















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét