Ca Dao Việt Nam
Ca dao vần N
Nam Hà đi dễ khó về
Trai đi có vợ, gái về có con
Trai đi có vợ, gái về có con
-o-
Nam mô Bồ Tát
Chẻ lạt đứt tay
Đi cày trâu húc
Đi súc phải cọc
Đi học thầy đánh
Đi gánh đau vai
Nằm dài nhịn đói
-o-
Nàng dâu khôn lanh, nấu canh cho ngọt
Canh sôi hớt bọt, thêm ớt rắc tiêu
Mẹ chồng cay đắng đủ điều
Mẹ ghét cứ ghét, chồng chiều cũng vui
-o-
Nàng ơi anh quyết với mình
Công anh dan díu chẳng thành thời thôi
Con sông bên lở, bên bồi
Bên lở thì đục, bên bồi thì trong
Sông kia nước chảy hai dòng
Biết rằng bên đục, bên trong bên nào
-o-
Năm canh thì ngủ lấy ba
Hai canh coi sóc cửa nhà làm ăn
-o-
Nắng đổ chang chang
Thấy mặt con bán khoai lang
Tui bàng hoàng muốn làm cử rét
Trời mưa sấm sét
Thấy mặt con bán bánh tét
Tui muốn hét rụng rờin ...
-o-
Nắng lên cho héo lá lan
Cho đáng kiếp chàng, phụ rẫy tình xưa
Nắng lên cho héo ngọn dừa
Đánh chết chẳng chừa cái thói đổi thay
Nắng lên cho héo nhánh mai
Tui rủa tối ngày kẻ chẳng thủy chung
-o-
Nắng mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
-o-
Nằm giường lèo lại đòi trèo trướng phụng
Dẫu ai trề nhún, nó cũng làm ngang
Một khi bị đạp xuống sàn
Ngủ chung với chó, còn than nỗi gì
-o-
Nè em Tiên Bửu ôi
Nhớ em chưa ăn xôi mà anh như gặp hồi no bụng
Chưa ăn bún mà anh cũng no hơi
Thương em quên đứng, quên ngồi
Ngứa đầu quên gãi, đứt ruột rồi quên đau
-o-
Nếm muỗng đường om (nồi đất), mùi thơm vị ngọt
Qua thương nhớ bậu thức trót canh gà
Phận bậu như hạt mưa sa
Phận qua như gió thổi tuốt ra vàm ngoài
-o-
Nếu anh ác gian, đem dạ phụ phàng
Cho con kiến hôi bò dưới đất
Con kiến vàng bò trên nhánh cây
Nếu anh mê đó, bỏ đây
Cho con cá lội dưới nước
Con chim bay trên trời
-o-
Nếu làm hoa làm hoa hướng dương
Nếu làm đá làm đá hoa cương
-o-
Ngày đi, trúc chửa mọc răng
Ngày về, trúc đã cao bằng ngọn tre
Ngày đi, lúa chửa có vè
Ngày về, lúa đã đỏ hoe ngoài đồng
Ngày đi, em chửa có chồng
Ngày về, em đã con quấn, con quít, con bồng, con mang
-o-
Ngày nào anh nói em đành
Bụi tre trước ngõ để dành đan nôi
Bây giờ anh nói em thôi
Bụi tre trước ngõ đan nôi ai nằm?
-o-
Ngày nào anh nói em đành
Cuốc đất trồng hành, gieo cải, vãi kê
Bây giờ, anh nói em chê
Để cải anh héo, cho kê anh tàn
-o-
Ngày nào ra đứng bờ sông
Sông xa, xa tít cho lòng em đau
-o-
Ngày qua tháng lại
Vật đổi sao dời
Nòng nọc đứt đuôi
Nhảy lên mặt đất
Rõ ràng cóc thật
Chẳng phải trê nào!
Cả xóm xôn xao
Đồn đi khắp huyện
Cóc cho nghe chuyện
Tìm đến thử coi
Nhận rõ con rồi
Lại xin lỗi vợ
Trăm nghìn lạy mợ
Vì trót quá ghen
Ở không trọn nghĩa...
-o-
Ngày rằm, mùng một ăn chay
Ghét con mỏ nhọn tưởng hoài chả nem
-o-
Ngày xưa anh bủng anh beo
Tay bưng chén thuốc tay đèo múi chanh
Bây giờ anh khỏi anh lành
Anh theo duyên mới anh đành phụ em
-o-
Ngày xưa quả báo thì chầy
Ngày nay quả báo trước ngay nhãn tiền
-o-
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè nói ngược
Ngựa đua dưới nước
Tàu chạy lên bờ
Lên núi đặt lờ
Xuống sông đốn củi
Gà cồ hay ủi
Heo nái hay bươi..
-o-
Ngó lên nhang tắt đèn mờ
Mẫu thân đâu vắng bàn thờ lạnh tanh
-o-
Ngó lên tàng cây thấy cặp cu trốn nắng
Ngó ra ngoài ruộng thấy đôi cò trắng bay xa
Đi về lập miễu thờ cha
Cất chùa thờ mẹ, lập trang thờ bà
-o-
Ngó qua bên bến Tô Châu
Thấy em gánh nước trên đầu giắt trâm
-o-
Ngọc hoàng ngồi tựa ngai vàng
Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi
-o-
Ngồi buồn gởi bức thư sang
Có con rồng bạch chắn ngang giữa trời
Vậy nên thư chẳng tới nơi
Trong thư ai biết những lời làm sao
-o-
Ngồi buồn vuốt bụng thở dài
Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều
-o-
Ngày đêm trông bóng trăng tàn
Muốn riêng với nguyệt mà than một lời
Nguyệt rằng: Vật đổi sao dời
Thân này vẫn để cho người soi chung
-o-
Người ta tuổi tí tuổi mùi
Còn em thì chịu bùi ngùi tuổi (tủi) thân
-o-
Người trên ở chẳng chính ngôi
Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào
Người trên ở chẳng được cao
Khiến cho kẻ dưới lộn nhào lên trên
-o-
Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời về sau
-o-
Nhà ai chồng quỉ vợ ma
Hễ ông ăn chả thì bà ăn nem
Đói cơm khát nước tèm lem
No cơm ấm áo lại thèm nọ kia
-o-
Nhà Bè nước chảy chia hia
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
-o-
Nhà em cao, hàng rào em kín
Nhà em tám, chín, mười từng
Con ong bay vô không lọt
Biểu con bướm đừng xôn xao
Anh về sắm lễ cho cao
Cậy mai dong cho giỏi
Mới bước vào nhà em
-o-
Nhà hát bóng chào rào chộn rộn
Sở chụp hình ngồi đứng chỉnh tề
Thăm em một chút anh về
Chơi khuya lính bắt khó bề phân bua
-o-
Nhà ta ba bốn chị em
Mẹ ta còn thèm một chút rể xa
Ta về ta bảo mẹ ta
Rể gần cho ruộng, rể xa cho tiền
-o-
Nhà tôi có dãy vườn hoa
Có ba dãy nhãn, có ba dãy dừa
Dù anh đi sớm, về trưa
Sao anh chẳng nghĩ dãy dừa nhà tôi
Sao anh chẳng đứng, chẳng ngồi
Hay là anh phải duyên tôi anh buồn
Anh buồn, anh lại đi buôn
Có tiền lấy vợ, thôi buồn làm chi
-o-
Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rong, nhất nông nhì sĩ
-o-
Nhất thì bộ lại, bộ binh
Nhì thì bộ hộ, bộ hình cũng xong
Thứ ba thì đến bộ công
Nhược bằng bộ lễ, lạy ông xin về
-o-
Nhện sa xuống nước nổi phình
Kiếu huynh kiếu đệ kiếu người tình tôi lui
-o-
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Phu thê trong nghĩa tương phùng
Chăn loan, gối quế, chữ tùng cùng ai
Tấm đá hoa ghi tạc để đời
-o-
Nhìn nhau lệ ứa đôi hàng
Tàu lui ốc thổi, tui chàng rẽ phân
-o-
Nhìn ra sậy xám, lau vàng
Ngày lu, nắng úa, bóng chàng nơi đâu?
-o-
Nhỏ thì nhờ mẹ nhờ cha
Lớn lên nhờ vợ, về già nhờ con
-o-
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than
-o-
Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi
Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tơ tưởng một người ở xa
-o-
Nhớ ai, nhớ mãi thế này,
Nhớ đêm quên ngủ nhớ ngày quên ăn.
Nhớ ai em những khóc thầm,
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa.
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,
Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai ?
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,
Như đứng đống lửa như ngồi đống than ?
-o-
Nhờ cô nhờ bác giúp lời
Chị em giúp của, ông trời định đôi
-o-
Nhứt thích ăn trái chua
Hai ưa mua áo tốt
Ba tìm lột quần trai
-o-
Những người chước độc mưu thâm
Tai kia vạ nọ ngấm ngầm đến ngay
-o-
Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày
-o-
Những người ti hí mắt lươn
Trai thì trộm cắp, gái buôn chồng người
-o-
Non cao cũng có đường trèo
Bệnh dẫu hiểm nghèo cũng có thuốc tiên
-o-
Non cao cũng có đường trèo
Đường có hiểm nghèo cũng có lối đi
-o-
Non kia ai đắp lên cao
Sông kia biển nọ ai đào chi sâu
-o-
Nói chín thì làm nên mười
Nói mười làm chín kẻ cười người chê
-o-
Nói đẩy đưa cho vừa lòng bạn
Con sông Giang Hà chỗ cạn chỗ sâu
-o-
Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như con bướm đậu rồi lại bay
-o-
Nói người chẳng nghĩ đến ta
Thử sờ lên gáy xem xa hay gần
-o-
Nói ra thì nhớ lấy lời
Đừng như ong bướm đậu rồi lại bay
-o-
Nồi đồng mà úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất than dài
Chồng tôi vô Quảng biết ngày nào ra
-o-
Nội trong lục tỉnh Nam Kỳ
Thấy em ăn nói nhu mì anh thương
Có mặt tui mình nói mình thương
Tui về chốn cũ mình vấn vương nơi nào?
-o-
Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời, chẳng thấy người thương
-o-
Nước chanh giấy rưới vô mắm mực
Rau mũi viết trộn lẫn giấm son
Bốn mùi họp lại càng ngon
Cũng như qua gần bậu, chẳng còn chờ trông
-o-
Nước giữa dòng chê trong, chê đục
Vũng trâu đầm hì hục khen ngon
-o-
Nước không ra nước
Dầu không ra dầu
Lỡ quan lỡ lính lỡ làng
Lỡ lòng dân giả, lỡ hàng công khanh
-o-
Nước lã mà vã nên hồ
Tay không mà nổi cơ đồ mới hay
-o-
Nước lên, cuốn sáo nhổ đăng
Trong tay em có ngọc cũng không bằng có anh
-o-
Nước lên rồi nước lại ròng
Đố ai bắt được con còng trong hang
-o-
Nước mắm ngon dầm con cá liệt
Em có chồng nói thiệt anh hay
-o-
Nước mắt nhỏ sa lấy khăn mu xoa nàng chặm
Quyến luyến nhau rồi ngàn dặm khó quên
-o-
Nước trong khe suối chảy ra
Mình chê ta đục, mình đà trong chưa?
-o-
Nửa đời sương gió ngang tàng
Trái tim lụy chỉ vì nàng đấy thôi
-o-
Nửa về nửa muốn ở đây
Về nhà nhớ bạn, ở đây nhớ nhà
-o-
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng
Ca dao vần H
Hát bội làm tội người ta
Đàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con
-o-
Hèn mà làm bạn với sang
Kẻ ngồi người đứng có ngang nhau bao giờ
-o-
Hoa thơm ai chẳng muốn đeo
Người khôn ai nỡ cứ theo nặng lời
-o-
Hoa thơm ai chẳng nâng niu
Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề
-o-
Hoành hoạch, hoành hoạch
Giặt áo chồng tao
Giặt áo phải giặt cho sạch
Phơi áo thì phơi trên sào
Đừng phơi hàng rào rách áo chồng tao
-o-
Học hành thi cử mà chi
Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì
-o-
Học trò đi mò cơm nguội
Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời
-o-
Hỏi vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha
-o-
Hôm nay có đám giỗ gần
Trong bụng bần thần, chẳng muốn nấu cơm
-o-
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.
-o-
Hơn nhau tấm áo tấm quần
Cởi ra mình trần ai cũng như ai
-o-
Hỡi người kẻ đóng then gài
Có hay có biết kẻ ngoài trùng dương
-o-
Huệ nhớ thương Lan, héo vàng xác Huệ
Anh quá thương nàng, trối kệ thị phi
-o-
Huỳnh Cầm, Huỳnh Bá, Huỳnh Liên
Ba Huỳnh hiệp lại thì khiêng ra đồng
-o-
Huỳnh Liên, Huỳnh Bá, Huỳnh Cầm
Ba Huỳnh hiệp lại thì nằm xuội lơ
-o-
Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây
Đàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con
-o-
Hèn mà làm bạn với sang
Kẻ ngồi người đứng có ngang nhau bao giờ
-o-
Hoa thơm ai chẳng muốn đeo
Người khôn ai nỡ cứ theo nặng lời
-o-
Hoa thơm ai chẳng nâng niu
Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề
-o-
Hoành hoạch, hoành hoạch
Giặt áo chồng tao
Giặt áo phải giặt cho sạch
Phơi áo thì phơi trên sào
Đừng phơi hàng rào rách áo chồng tao
-o-
Học hành thi cử mà chi
Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì
-o-
Học trò đi mò cơm nguội
Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời
-o-
Hỏi vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha
-o-
Hôm nay có đám giỗ gần
Trong bụng bần thần, chẳng muốn nấu cơm
-o-
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.
-o-
Hơn nhau tấm áo tấm quần
Cởi ra mình trần ai cũng như ai
-o-
Hỡi người kẻ đóng then gài
Có hay có biết kẻ ngoài trùng dương
-o-
Huệ nhớ thương Lan, héo vàng xác Huệ
Anh quá thương nàng, trối kệ thị phi
-o-
Huỳnh Cầm, Huỳnh Bá, Huỳnh Liên
Ba Huỳnh hiệp lại thì khiêng ra đồng
-o-
Huỳnh Liên, Huỳnh Bá, Huỳnh Cầm
Ba Huỳnh hiệp lại thì nằm xuội lơ
-o-
Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây
Ca dao vần G
Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng
Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui
-o-
Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa
Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua
-o-
Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng
Trai bạc tình một cẳng về quê
-o-
Gái lấy trai đúng là gái dại
Trai lấy rồi trai lại bán rao
Gái đâu có thứ hỗn hào
Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu
-o-
Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân
-o-
Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi
Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi
Sai gòn vui lắm em ơi
Lấy chồng về đó một đời sướng thân
-o-
Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ
Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông
-o-
Gẫm xem sự thế nực cười
Một con cá lội mấy người buông câu
-o-
Gần mực thì đen gần đèn thì sáng
-o-
Gập ghềnh nước chảy qua đèo
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng
-o-
Ghe anh đỏ mũi xanh lườn
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em
-o-
Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo
Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em
-o-
Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ
Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn
Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời
Mật đường dù chẳng đi đôi
Chút hương rớt lại, một đời chưa quên
-o-
Ghe lên ghe xuống dầm dề
Sao anh không gởi thơ về thăm em?
-o-
Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ
Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi
-o-
Già thì đặc bí bì bì
Con gái đương thì rỗng toác toàng toang
Ngoài xanh trong trắng như ngà
Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu
(Đố là gì? - cau dầy)
-o-
Giàu cha giàu mẹ thì ham
Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn
-o-
Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè
-o-
Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn
-o-
Giặc Tây đánh tới Cần Giờ
Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công
-o-
Giấy hồng đơn bán mấy
Cho anh mua lấy một tờ
Viết thơ quốc ngữ
Dán trên trái bưởi
Thả xuống giang hà
Bớ cô gánh nước bên bờ
Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ
-o-
Giận chồng xách gói ra đi
Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về
-o-
Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông
-o-
Gió đưa bụi trúc ngã quì
Ba năm trực tiết còn gì là xuân
-o-
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
-o-
Gió đưa gió đẩy bông trang
Bông búp về nàng, bông nở về anh
-o-
Gió đưa liễu yếu, mai quằn
Liễu yếu mặc liễu, mai quằn mặc mai
-o-
Gió đưa mụ đội lên dinh
Ông đội buồn tình xách nón chạy theo
Ông đội đòi cưới ba heo
Mụ đội đòi cưới con mèo cụt đuôi
-o-
Gió đưa tàu chuối la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
-o-
Gió đưa trăng thì trăng đưa gió
Con trăng lặn rồi gió biết đưa ai ?
-o-
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh dài thức đủ năm canh
-o-
Gió nam non thổi lòn hang dế
Con bạn xa rồi để nhớ để thương
-o-
Gió nam non thổi lòn hang dế
Em đi lấy chồng nâng túi sửa khăn
-o-
Gió thổi một ngày năm bảy trận giông
Anh đi nằm bãi sao không thấy về
-o-
Gió vàng hiu hắt đêm thanh
Đường xa, dặm vắng xin anh đừng về
Mảnh trăng đã trót lời thề
Sao anh để gánh nặng nề riêng em
-o-
Gò Công giáp biển, nổi tiếng mắm tôm chà
Mắm tôm chua ai ai cũng chắt lưỡi hít hà
Sài gòn, chợ Mỹ ai mà không hay
-o-
Gối rơm theo phận gối rơm
Có đâu dưới thấp mà chồm lên cao
-o-
Gỗ cẩm lai cậy cứng
Gỗ huỳnh đàn cậy thơm
Rác nọ chê rơm
Như cá cơm ghét cá rói
-o-
Giời sinh ông tướng có tài
cờ bạc xóc đĩa rông dài cả đêm
canh trước tưởng hãy còn tiền
canh sau cởi áo ngồi bên lọ hồ
Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui
-o-
Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa
Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua
-o-
Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng
Trai bạc tình một cẳng về quê
-o-
Gái lấy trai đúng là gái dại
Trai lấy rồi trai lại bán rao
Gái đâu có thứ hỗn hào
Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu
-o-
Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân
-o-
Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi
Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi
Sai gòn vui lắm em ơi
Lấy chồng về đó một đời sướng thân
-o-
Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ
Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông
-o-
Gẫm xem sự thế nực cười
Một con cá lội mấy người buông câu
-o-
Gần mực thì đen gần đèn thì sáng
-o-
Gập ghềnh nước chảy qua đèo
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng
-o-
Ghe anh đỏ mũi xanh lườn
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em
-o-
Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo
Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em
-o-
Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ
Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn
Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời
Mật đường dù chẳng đi đôi
Chút hương rớt lại, một đời chưa quên
-o-
Ghe lên ghe xuống dầm dề
Sao anh không gởi thơ về thăm em?
-o-
Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ
Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi
-o-
Già thì đặc bí bì bì
Con gái đương thì rỗng toác toàng toang
Ngoài xanh trong trắng như ngà
Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu
(Đố là gì? - cau dầy)
-o-
Giàu cha giàu mẹ thì ham
Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn
-o-
Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè
-o-
Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn
-o-
Giặc Tây đánh tới Cần Giờ
Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công
-o-
Giấy hồng đơn bán mấy
Cho anh mua lấy một tờ
Viết thơ quốc ngữ
Dán trên trái bưởi
Thả xuống giang hà
Bớ cô gánh nước bên bờ
Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ
-o-
Giận chồng xách gói ra đi
Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về
-o-
Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông
-o-
Gió đưa bụi trúc ngã quì
Ba năm trực tiết còn gì là xuân
-o-
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
-o-
Gió đưa gió đẩy bông trang
Bông búp về nàng, bông nở về anh
-o-
Gió đưa liễu yếu, mai quằn
Liễu yếu mặc liễu, mai quằn mặc mai
-o-
Gió đưa mụ đội lên dinh
Ông đội buồn tình xách nón chạy theo
Ông đội đòi cưới ba heo
Mụ đội đòi cưới con mèo cụt đuôi
-o-
Gió đưa tàu chuối la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
-o-
Gió đưa trăng thì trăng đưa gió
Con trăng lặn rồi gió biết đưa ai ?
-o-
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh dài thức đủ năm canh
-o-
Gió nam non thổi lòn hang dế
Con bạn xa rồi để nhớ để thương
-o-
Gió nam non thổi lòn hang dế
Em đi lấy chồng nâng túi sửa khăn
-o-
Gió thổi một ngày năm bảy trận giông
Anh đi nằm bãi sao không thấy về
-o-
Gió vàng hiu hắt đêm thanh
Đường xa, dặm vắng xin anh đừng về
Mảnh trăng đã trót lời thề
Sao anh để gánh nặng nề riêng em
-o-
Gò Công giáp biển, nổi tiếng mắm tôm chà
Mắm tôm chua ai ai cũng chắt lưỡi hít hà
Sài gòn, chợ Mỹ ai mà không hay
-o-
Gối rơm theo phận gối rơm
Có đâu dưới thấp mà chồm lên cao
-o-
Gỗ cẩm lai cậy cứng
Gỗ huỳnh đàn cậy thơm
Rác nọ chê rơm
Như cá cơm ghét cá rói
-o-
Giời sinh ông tướng có tài
cờ bạc xóc đĩa rông dài cả đêm
canh trước tưởng hãy còn tiền
canh sau cởi áo ngồi bên lọ hồ
Ca dao vần E
Em đeo chiếc kim hườn
Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến
Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!
-o-
Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Ðể quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Đình
May chăn cho rộng, ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt đêm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa tấm lòng
Chàng mà lo được, thiếp thời theo chân
-o-
Em liều một cái bánh bò
Con nào chót chét, cặp giò em chặt hai
-o-
Em liều một chén dầu chanh
Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền
-o-
Em liều một trái sầu riêng
Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro
-o-
Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi
Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?
-o-
Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác
Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?
-o-
Em ơi, anh bảo em này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi
-o-
Em ơi, em có thương anh
Em ra canh lính cho anh leo tường!
-o-
Em thấy anh em cũng muốn chào
Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông
-o-
Em thấy anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình
Dao trong mình, gươm anh cặp nách
Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi
-o-
Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu
Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi
Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi
Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra
-o-
Em về hỏi mẹ cùng cha
Có cho em lấy chồng xa hay đừng
-o-
Én bay thấp, mưa ngập bờ ao
Én bay cao, mưa rào lại tạnh
Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến
Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!
-o-
Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Ðể quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Đình
May chăn cho rộng, ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt đêm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên Lôi
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa tấm lòng
Chàng mà lo được, thiếp thời theo chân
-o-
Em liều một cái bánh bò
Con nào chót chét, cặp giò em chặt hai
-o-
Em liều một chén dầu chanh
Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền
-o-
Em liều một trái sầu riêng
Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro
-o-
Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi
Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?
-o-
Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác
Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?
-o-
Em ơi, anh bảo em này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi
-o-
Em ơi, em có thương anh
Em ra canh lính cho anh leo tường!
-o-
Em thấy anh em cũng muốn chào
Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông
-o-
Em thấy anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình
Dao trong mình, gươm anh cặp nách
Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi
-o-
Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu
Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi
Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi
Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra
-o-
Em về hỏi mẹ cùng cha
Có cho em lấy chồng xa hay đừng
-o-
Én bay thấp, mưa ngập bờ ao
Én bay cao, mưa rào lại tạnh
Ca dao vần Đ
Đánh bạc quen tay
Ngủ ngày quen mắt
Ăn vặt quen mồm
-o-
Đánh chết, mà nết không chừa
Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn
-o-
Đàn bà nói có là không
Nói yêu là ghét, nói buồn là vui
-o-
Đàn bà tốt tóc thì sang
Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu
-o-
Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi
-o-
Đàn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa trong hang trở về
-o-
Đàn ông đi biển có đôi
Đàn bà đi biển mồ côi một mình
-o-
Đàn ông không râu vô nghì
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con
-o-
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ
-o-
Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ
Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu
Rút gươm đâm họng máu trào
Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh
-o-
Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt
Lửa nhà máy hết cháy thành than
Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn
Kể từ khi em biết được chàng
Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên
-o-
Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc
Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang
Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc
Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân
-o-
Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân
Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần
Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run
-o-
Đèn treo ngang quán
Tỏ rạng bờ kinh
Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình
Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ
-o-
Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn
Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên
-o-
Đêm khuya ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?
-o-
Đêm khuya thắp chút dầu dư
Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình
-o-
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
-o-
Đêm khuya trăng dọi lầu son
Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng
Bển qua đây đàng đã xa đàng
Dầu tui có lâm nguy thất thế
Hỏi con bạn vàng nó cứu không?
Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông
Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời
-o-
Đêm nằm tàu chuối có đôi
Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình
-o-
Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng
Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài
Bây giờ chàng đã nghe ai
Áo ngắn chẳng đắp, áo dài không chung
Bây giờ sự đã nhạt nhùn
Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua
Cá lên mặt nước, cá khô
Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm
-o-
Đêm qua mưa bụi gió bay,
Gió rung cành bạc, gió lay cành vàng
Em với anh cùng tổng khác làng
Nào em biết ngõ nhà chàng ở đâu !
Một thương, hai nhớ, ba sầu,
Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.
Thương chàng lắm lắm chàng ơi !
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Muốn than mà chẳng được than.
Kìa như đá đổ bên ngoài lầu Tây,
Đá đổ còn có khi đầy,
Thương chàng biết thuở nào khuây hở chàng.
-o-
Đêm qua nguyệt lặn về Tây
Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài
Trúc với mai, mai về trúc nhớ
Trúc trở về, mai nhớ trúc không
Bây giờ kẻ Bắc, người Đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư
-o-
Đêm thanh cảnh vắng
Thức trắng năm canh
Một duyên, hai nợ, ba tình
Đường kia, nỗi nọ, phận mình ra sao?
-o-
Đến đây đất nước lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo
-o-
Đến ta mới biết của ta
Trăm nghìn năm trước biết là của ai
-o-
Đề huề chồng vợ
Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang
Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ
-o-
Đi chùa lạy Phật cầu chồng
Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi
-o-
Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
-o-
Đi đâu mà vội mà vàng
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây
Thủng thỉnh như chúng anh đây
Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng
-o-
Đi cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn
-o-
Đi qua nhà nhỏ
Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng
Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương
-o-
Đó đây trước lạ sau quen
Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần
-o-
Đói lòng ăn đọt chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng
-o-
Đói lòng ăn nắm lá sung
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng
-o-
Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương
-o-
Đói lòng nuốt trái khổ qua
Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười
-o-
Đôi ta chẳng được sum vầy
Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương
Vì sương nên núi bạc đầu
Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa
-o-
Đôi ta đã trót lời thề
Con dao lá trúc đã kề tóc mai
Dặn rằng: Ai chớ quên ai!
-o-
Đôi ta như loan với phượng
Nỡ lòng nào để phượng lìa cây
Muốn cho có đó, có đây
Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi
Thà rằng chẳng biết thì thôi
Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền
-o-
Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quít, con trong con ngoài
Đôi ta như thể con bài
Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào
-o-
Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây
Rung cây, rung cỗi, rung cành
Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng
-o-
Đố ai lặn xuống vực sâu
Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa
-o-
Đố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người
Mấy người bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim
-o-
Đốt than nướng cá cho vàng
Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi
-o-
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm
Muốn ăn bông súng mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm
-o-
Đồng tiền Vạn lịch
Thích bốn chữ vàng
Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu
Bây giờ cô lấy chồng đâu?
Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng
-o-
Đổ lửa than nên vàng lộn trấu
Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em
-o-
Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ
Anh gặp em đây không cửa không nhà
Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?
-o-
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn
-o-
Đờn cò lên trục kêu vang
Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng
Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng
Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương
Chiều nay qua phản bạn hồi hương
Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào
Ghe tui tới chỗ cắm sào
Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông
-o-
Đu đủ tía, bạc hà cũng tía
Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm
Anh thấy em tốt mã anh lầm
Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông
-o-
Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say
-o-
Đường trơn trợt gượng đi kẻo té
Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng
Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi
Hay dạ của chàng nay đã hết thương?
-o-
Đứt tay một chút còn đau
Huống chi nhân nghĩa, lìa sao cho đành
Ngủ ngày quen mắt
Ăn vặt quen mồm
-o-
Đánh chết, mà nết không chừa
Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn
-o-
Đàn bà nói có là không
Nói yêu là ghét, nói buồn là vui
-o-
Đàn bà tốt tóc thì sang
Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu
-o-
Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi
-o-
Đàn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa trong hang trở về
-o-
Đàn ông đi biển có đôi
Đàn bà đi biển mồ côi một mình
-o-
Đàn ông không râu vô nghì
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con
-o-
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ
-o-
Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ
Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu
Rút gươm đâm họng máu trào
Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh
-o-
Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt
Lửa nhà máy hết cháy thành than
Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn
Kể từ khi em biết được chàng
Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên
-o-
Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc
Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang
Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc
Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân
-o-
Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân
Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần
Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run
-o-
Đèn treo ngang quán
Tỏ rạng bờ kinh
Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình
Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ
-o-
Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn
Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên
-o-
Đêm khuya ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?
-o-
Đêm khuya thắp chút dầu dư
Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình
-o-
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
-o-
Đêm khuya trăng dọi lầu son
Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng
Bển qua đây đàng đã xa đàng
Dầu tui có lâm nguy thất thế
Hỏi con bạn vàng nó cứu không?
Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông
Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời
-o-
Đêm nằm tàu chuối có đôi
Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình
-o-
Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng
Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài
Bây giờ chàng đã nghe ai
Áo ngắn chẳng đắp, áo dài không chung
Bây giờ sự đã nhạt nhùn
Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua
Cá lên mặt nước, cá khô
Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm
-o-
Đêm qua mưa bụi gió bay,
Gió rung cành bạc, gió lay cành vàng
Em với anh cùng tổng khác làng
Nào em biết ngõ nhà chàng ở đâu !
Một thương, hai nhớ, ba sầu,
Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.
Thương chàng lắm lắm chàng ơi !
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Muốn than mà chẳng được than.
Kìa như đá đổ bên ngoài lầu Tây,
Đá đổ còn có khi đầy,
Thương chàng biết thuở nào khuây hở chàng.
-o-
Đêm qua nguyệt lặn về Tây
Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài
Trúc với mai, mai về trúc nhớ
Trúc trở về, mai nhớ trúc không
Bây giờ kẻ Bắc, người Đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư
-o-
Đêm thanh cảnh vắng
Thức trắng năm canh
Một duyên, hai nợ, ba tình
Đường kia, nỗi nọ, phận mình ra sao?
-o-
Đến đây đất nước lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo
-o-
Đến ta mới biết của ta
Trăm nghìn năm trước biết là của ai
-o-
Đề huề chồng vợ
Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang
Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ
-o-
Đi chùa lạy Phật cầu chồng
Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi
-o-
Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
-o-
Đi đâu mà vội mà vàng
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây
Thủng thỉnh như chúng anh đây
Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng
-o-
Đi cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn
-o-
Đi qua nhà nhỏ
Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng
Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương
-o-
Đó đây trước lạ sau quen
Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần
-o-
Đói lòng ăn đọt chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng
-o-
Đói lòng ăn nắm lá sung
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng
-o-
Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương
-o-
Đói lòng nuốt trái khổ qua
Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười
-o-
Đôi ta chẳng được sum vầy
Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương
Vì sương nên núi bạc đầu
Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa
-o-
Đôi ta đã trót lời thề
Con dao lá trúc đã kề tóc mai
Dặn rằng: Ai chớ quên ai!
-o-
Đôi ta như loan với phượng
Nỡ lòng nào để phượng lìa cây
Muốn cho có đó, có đây
Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi
Thà rằng chẳng biết thì thôi
Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền
-o-
Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quít, con trong con ngoài
Đôi ta như thể con bài
Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào
-o-
Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây
Rung cây, rung cỗi, rung cành
Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng
-o-
Đố ai lặn xuống vực sâu
Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa
-o-
Đố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người
Mấy người bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim
-o-
Đốt than nướng cá cho vàng
Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi
-o-
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm
Muốn ăn bông súng mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm
-o-
Đồng tiền Vạn lịch
Thích bốn chữ vàng
Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu
Bây giờ cô lấy chồng đâu?
Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng
-o-
Đổ lửa than nên vàng lộn trấu
Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em
-o-
Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ
Anh gặp em đây không cửa không nhà
Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?
-o-
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn
-o-
Đờn cò lên trục kêu vang
Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng
Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng
Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương
Chiều nay qua phản bạn hồi hương
Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào
Ghe tui tới chỗ cắm sào
Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông
-o-
Đu đủ tía, bạc hà cũng tía
Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm
Anh thấy em tốt mã anh lầm
Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông
-o-
Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say
-o-
Đường trơn trợt gượng đi kẻo té
Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng
Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi
Hay dạ của chàng nay đã hết thương?
-o-
Đứt tay một chút còn đau
Huống chi nhân nghĩa, lìa sao cho đành
Ca
dao vần D
Dao cau rọc lá trầu vàng
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa
-o-
Day qua bên trái gặp bảy mũi dùi
Day qua bên mặt gặp mười mũi giáo
-o-
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về
-o-
Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì
-o-
Dầu bông quế, dầu bông hường
Hải đường, thơm thiệt là thơm
Tóc em như lông con chó xồm
Xức dầu thì xức, ai thèm dòm, bớ em Hai
-o-
Dầu bông sứ, dầu bông ngâu
Xức tóc con Thị Mầu
Nó đứng đầu cầu
Nắng dãi mưa dầu, hôi hãy còn hôi
-o-
Dầu cù là hiệu Ông Tiên
Xức vô chót mũi, nổi điên tức thời
-o-
Dốc một lòng lấy chồng hay chữ
Để ra vào kinh sử lắng nghe
-o-
Duyên phải duyên kim cải
Ngãi phải ngãi giao hoà
Rồi mai mốt đây con bạn nói dìa nhà
Cho qua nhắn kỉnh thăm cô bác với ông bà đặng bình an
-o-
Dù ai cho bạc cho vàng
Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay
-o-
Dù ai nói ngã nói nghiêng
Thì ta cũng vững như kiềng ba chân
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa
-o-
Day qua bên trái gặp bảy mũi dùi
Day qua bên mặt gặp mười mũi giáo
-o-
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về
-o-
Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì
-o-
Dầu bông quế, dầu bông hường
Hải đường, thơm thiệt là thơm
Tóc em như lông con chó xồm
Xức dầu thì xức, ai thèm dòm, bớ em Hai
-o-
Dầu bông sứ, dầu bông ngâu
Xức tóc con Thị Mầu
Nó đứng đầu cầu
Nắng dãi mưa dầu, hôi hãy còn hôi
-o-
Dầu cù là hiệu Ông Tiên
Xức vô chót mũi, nổi điên tức thời
-o-
Dốc một lòng lấy chồng hay chữ
Để ra vào kinh sử lắng nghe
-o-
Duyên phải duyên kim cải
Ngãi phải ngãi giao hoà
Rồi mai mốt đây con bạn nói dìa nhà
Cho qua nhắn kỉnh thăm cô bác với ông bà đặng bình an
-o-
Dù ai cho bạc cho vàng
Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay
-o-
Dù ai nói ngã nói nghiêng
Thì ta cũng vững như kiềng ba chân
Ca
dao vần C
Canh khuya thắp chút dầu dư
Tim loan cháy lụn thiếp sầu tư một mình
-o-
Cau già dao bén thì ngon
Người già trang điểm phấn son cũng già
-o-
Cá bống còn ở trong hang
Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu
Ta về, ta sắm cần câu
Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng
-o-
Cá kèo mà gặp mắm tươi
Như nơi đất khách gặp người cố tri
-o-
Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư
-o-
Cá nục nấu với dưa hồng
Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi
-o-
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn
-o-
Cách sông mới phải lụy thuyền
Còn như đường liền ai phải lụy ai
-o-
Cái cò lặn lội bờ sông
Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền
-o-
Cái cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng
Có sáo, thì sáo nước trong
Đừng sáo nước đục, đau lòng cò con
-o-
Cái kiến mày kiện củ khoai
Chê em tao khó, lấy ai cho giàu
Nhà tao chín đụn, mười trâu
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân
Cầu này là cầu ái ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh
-o-
Cái quạt mười tám cái nan,
Ở giữa phết giấy hai nan hai đầu.
Quạt này anh để che đầu,
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt nàỵ
Ước gì chung mẹ chung thầy,
Để em giữ cái quạt này làm thân !
Rồi ta chung gối, chung chăn,
Chung quần chung áo, chung khăn dội đầu.
Nằm thời chung cái giường tàu,
Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi.
Ăn cơm chung cả một nồi,
Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa
Chải đầu chung cả lược ngà,
Soi gương chung cả nhành hoa giắt đầu.
-o-
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Anh thương em cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!
-o-
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em, xin sắm một con đò
Để em qua lại mua cò gởi thơ
-o-
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về
-o-
Cái ngủ mày ngủ cho say
Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày
-o-
Cái răng cái tóc là góc con người
-o-
Cát bay vàng lại ra vàng
Những người quân tử dạ càng đinh ninh
Đinh ninh ta để dạ này
Có công mài sắt, có ngày nên kim
-o-
Cà Mau hãy đến mà coi
Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội lềnh như bánh canh
-o-
Càng già càng dẻo càng dai
Càng gãy chân chõng, càng sai chân giường
-o-
Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon
-o-
Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng
-o-
Cần Thơ là tỉnh
Cao Lãnh là quê
Anh đi lục tỉnh bốn bề
Mảng lo buôn bán không về thăm em
-o-
Cậu cai nón dấu lông gà
Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai
Ba năm được một chuyến sai
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê
Cậu cai buông áo em ra
Ðể em đi bán kẻo mà chợ trưa
-o-
Cây cao bóng mát không ngồi
Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây
-o-
Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn
Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!
-o-
Cây khô không dễ mọc chồi
Mẹ già không thể sống đời với con
-o-
Cây không trồng nên lòng không tiếc
Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương
-o-
Cây trên rừng hoá kiểng
Cá dưới biển hoá long
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng
Đến đây trời khiến đem lòng thương em
-o-
Cây vông đồng không không trồng mà mọc
Con gái xóm này chẳng chọc mà theo
-o-
Cây xanh lá đỏ hoa vàng
Hạt đen rễ trắng đố chàng là chi
(đố là gì? Cây rau sam)
-o-
Cây xanh thời lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con
Mừng cây rồi lại mừng cành
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con
Ba vuông sánh với bảy tròn
Đời cha vinh hiển đời con sang giàu
-o-
Cậu cai buông áo em ra
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
Chợ trưa dưa nó héo đi
Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?
-o-
Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại
Bắt anh ra treo tại nhành dương
Biểu từ ai, anh từ đặng
Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ
-o-
Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày
-o-
Chanh chua thì khế cũng chua
Chanh bán có mùa, khế bán quanh năm
-o-
Cháu ơi cháu ngủ cho ngon
Của dì, dì giữ ai bòn mặc ai
-o-
Chàng ôi, giận thiếp mà chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng
-o-
Chàng về để áo lại đây
Để khuya em đắp gió khuya lạnh lùng
-o-
Chàng về để áo lại đây
Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn
-o-
Chặt không đứt, bứt không rời
Phơi không khô, chụm không cháy
(Đố là con gì? Con sam)
-o-
Chẳng tham ruộng cả, ao tiền
Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ
-o-
Chân đi ba bước lại dừng
Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn
Đi buôn cho đáng đi buôn
Đi buôn cau héo có buồn hay không
-o-
Chén tình là chén say sưa
Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu
-o-
Chẻ tre bện sáo cho dầy
Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em
-o-
Chê đắng chê hôi
Đã chê xôi không dẻo
Lại chê kẹo không ngọt
-o-
Chê đây, lấy đấy sao đành
Em chê cam sành , lấy phải quít hôi
Quít hôi bán một đồng mười
Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ
-o-
Chết trước được mồ, được mả
Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng
-o-
Chiếc khăn cô đội trên đầu
Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi
Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời
Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên
-o-
Chiếu bông mà trải góc đền
Muốn vô làm bé biết có bền hay không?
-o-
Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu
Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ
-o-
Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau
-o-
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người áo trắng khăn điều vắt vai
-o-
Chiều chiều , ông chánh về Tây
Cô ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn
Thông ngôn, ký lục bạc chục không màng
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay
-o-
Chiều chiều ông Lã Đông Tân
Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem
-o-
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
-o-
Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi
Sống làm chi mà chia ly thục nữ
Thác cho rồi đặng chữ thuỷ chung
-o-
Chiều chiều vịt lội cò bay
Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng
Vô rừng bứt một sợi mây
Đem về thắt gióng cho nàng đi buôn
-o-
Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc
Cá bãi trầu lội tuốt mương cau
-o-
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
-o-
Chim khôn mắc phải lưới hồng
Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng
Anh rằng anh chẳng lấy vàng
Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh
-o-
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi
-o-
Chim quyên xuống đất ăn trùng
Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than
-o-
Chim trời ai dễ đếm lông
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày
-o-
Chim xa bầy thương cây nhớ cội
Người xa người, tội lắm người ơi !
Thà rằng chẳng biết thì thôi,
Biết ra mỗi đứa một nơi sao đành ?
-o-
Chim xa cành còn thương nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà không gặp thì thôi
Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành
-o-
Chính chuyên chết cũng ra ma
Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng
-o-
Chì khoe chì nặng hơn đồng
Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông
-o-
Chị kia bới tóc đuôi gà
Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?
Nhà tui ở dưới đám dâu
Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua
-o-
Chị lấy chồng em gặm giò heo
Giò heo chị để chị treo
Em lấy giò mèo em gặm em chơi
-o-
Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ
-o-
Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Tay đâu mà bụm miệng người thế gian
-o-
Cho em trở lại đường xưa
Để em tìm lại gốc dừa cạnh ao
Lời anh âu yếm chiều nào
Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu
-o-
Chồng chài, vợ lưới con câu
Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò
-o-
Chồng chung chồng chạ
Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng
-o-
Chồng già vợ trẻ là duyên
Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời
-o-
Chồng già vợ trẻ là tiên
Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời
-o-
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì
Thưa anh, anh giận em chi
Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho
-o-
Chồng thấp mà lấy vợ cao
Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa
-o-
Chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch biết sao so bằng
-o-
Chơi hoa cho biết mùi hoa
Cầm cân cho biết cân già, cân non
-o-
Chuối non giú ép chát ngầm
Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm
-o-
Chuột kêu chút chít trong rương
Em đi cho khéo đụng giường mẹ hay
-o-
Chuyện đời chẳng ít thì nhiều
Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai
-o-
Chuyện người mặc kệ người lo
Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng
-o-
Chừng nào đá nổi rong chìm
Muối chua chanh mặn anh tìm được em
-o-
Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
Còn như yêu vụng nhớ thầm
Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì
-o-
Con ai đem bỏ chùa này
A di đà Phật, con thầy thầy nuôi
-o-
Con cá buôi quạt đuôi ra biển Bắc
Bơi dọc lội ngang không chắc trở về
-o-
Con cá đối nằm trên cối đá
Chim đa đa đậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dưng?
-o-
Con cá mày ở dưới ao
Tao tát nước vào mày sống được chăng
-o-
Con cá trong lờ đỏ hoe con mắt
Con cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô
-o-
Con chim chích choè
Nó đậu cành chanh
Tôi ném hòn sành
Nó quay lông lốc
Tôi làm một chốc
Được ba mâm đầy
Ông thầy ăn một
Bà cốt ăn hai
Cái thủ, cái tai
Tôi đem biếu chúa
Chúa hỏi chim gì
Con chim chích chòe..
-o-
Con chim mày ở trên cây
Tao đứng dưới gốc mày bay đường nào
-o-
Con chim nho nhỏ
Đỏ mỏ xanh lông
Đỏ mồng xanh kiếng
Nó kêu xao xuyến
Nhiều tiếng lạ lùng
Kêu sao cho quân tử nghe cùng
Phải duyên thì kết, phải lòng thì thương
-o-
Con có cha mẹ đẻ
Không ai ở lỗ nẻ chui lên
-o-
Con cóc là cậu ông trời
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho
Con cóc là cậu thầy nho
Hễ ai đánh chết trời cho quan tiền
-o-
Con công hay múa
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xoè cánh ra
Nó đậu cành đa
Nó kêu ríu rít
Nó đậu cành mít
Nó kêu vịt chè
Nó đậu cành tre
Nó kêu bè rau muống
Nó đậu dưới ruộng
Nó kêu tầm vông
Con công hay múa..
-o-
Con đỉa đeo bà
Con gà cục tác
Mỏ nhác cầm chèo
Con mèo cầm lái
Con rái chạy buồm
Con tôm tát nước...
-o-
Con gái giống cha giàu ba họ
Con trai giống mẹ khó ba đời
-o-
Con gái mà gả chồng xa
Một là mất giỗ hai là mất con
Con gái mà gả chồng gần
Có chén canh cần nó cũng đem cho
-o-
Con gái ông Bang che dù che lọng
Con gái bà bống thổi lửa tắt đèn.
-o-
Con hơn cha là nhà có phúc
-o-
Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà
-o-
Con không cha như nhà không nóc
Con không mẹ con khóc tối ngày
-o-
Con không chê cha mẹ khó
Chó không chê chủ nhà nghèo
-o-
Con kiến mày ở trong nhà
Tao đóng cửa lại mày ra đường nào?
-o-
Con lên ba cả nhà học nói
-o-
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm, mua muối giỗ cha con mèo
-o-
Con mèo con chuột có lông
Cây tre có mắt, nồi đồng có quai
-o-
Con nhà lính, tính nhà quan
-o-
Con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh
-o-
Con quốc kêu réo rắt trên ngàn
Gà rừng táo tác gọi con tha mồi
Lạnh lùng thay láng giềng ôi
Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều
-o-
Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn
-o-
Con ơi học lấy nghề cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm
-o-
Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
-o-
Con sâu làm rầu nồi canh
Một người làm xấu, nhơ danh cả nhà
-o-
Con sông bên lở, bên bồi
Bên lở thì đục, bên bồi thì trong
Sông kia nước chảy đôi dòng
Biết rằng bên đục, bên trong bên nào!
-o-
Con út con ít như mít chín cây
Gái cũng như trai, ai ai cũng chuộng
-o-
Con vua thì được làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa
-o-
Có cây mới có dây leo
Có cột có kèo, mới có đòn tay
-o-
Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây
-o-
Có chồng mà chẳng có con
Khác gì hoa nở trên non một mình
-o-
Có chum cá mới ở đìa
Có em anh mới sớm khuya chốn này
-o-
Có con mà gả chồng gần
Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha
Có con mà gả chồng xa
Ba phần ruộng trẻo chẳng ma nào cày
-o-
Có công mài sắt có ngày nên kim
-o-
Có của thì có mẹ nàng
Có bạc có vàng thì có kẻ ưa
Chị là con gái nhà giầu
Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen
Em là con gái nhà hèn
Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè
-o-
Có đâu sen, ấu một bồn?
Có đâu chanh, khế sánh phần lựu lê?
-o-
Có đỏ mà chẳng có thơm
Như hoa dâm bụt nên cơm cháo gì!
-o-
Có gió giông hung mới biết tùng bá cứng
Nhờ ngọn lửa hồng mới rõ thức vàng cao
Thuyền quyên sánh với anh hào
Vốn không thả lý, gieo đào như ai!
-o-
Có làm mới có ăn
Ngồi không ai dễ đem phần tới cho
-o-
Có lòng xin tạ ơn lòng
Xin đừng đi lại mà chồng em ghen
-o-
Có phước đẻ con biết lội
Có tội đẻ con hay trèo
-o-
Có phước lấy được vợ già
Sạch cửa sạch nhà, lại ngọt canh cơm
Vô phước, lấy phải trẻ ranh
Nó ăn, nó phá tan tành nó đi
-o-
Có thằng chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ
Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh
Có thằng chồng say như trong chay ngoài hội
Ngó vô nhà như hội tầm vu
-o-
Có yêu thời nói rằng yêu
Chẳng yêu, thì nói một điều cho xong
Làm chi dở đục, dở trong
Lờ đờ như nước cho lòng chẳng an
-o-
Còn ăn còn ngủ còn gân
Không ăn không ngủ có mần được chi
-o-
Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha thác, gót con đen xì
-o-
Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên ông lão cũng quơ làm chồng
-o-
Còn duyên như tượng tô vàng
Hết duyên như ổ ong tàn ngày mưa
-o-
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình
-o-
Còn đêm nay nữa mai đi
Lạng vàng không tiếc, tiếc chi ngồi kề
Còn đêm nay nữa, mai về
Lạng vàng không tiếc, tiếc kề má son
-o-
Còn trời còn nước còn non
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa
-o-
Cỏ mọc bờ giếng cheo leo
Lâm chung có bậu, hiểm nghèo có qua
-o-
Cõng rắn cắn gà nhà
Rước voi dày mả tổ
-o-
Cô ấy mà lấy anh này
Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu
Ngồi trong cửa sổ têm trầu
Có hai con nhỏ đứng hầu hai bên
-o-
Cô kia má đỏ hồng hồng
Cô chưa lấy chồng, còn chờ đợi ai
Buồng không lần lữa hôm mai
Đầu xanh mấy chốc, da mồi tóc sương
-o-
Công anh chẻ nứa đan bồ
Con chị đi mất, anh vồ con em
Công anh rọc lá gói nem
Con chị đi mất, con em trốn chồng
-o-
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
-o-
Cổ tay em trắng lại tròn
Để cho ai gối nó mòn một bên
-o-
Công anh làm rể có tài
một mình ăn hết mười hai vại cà
giếng đâu thì dắt anh ra
kẻo mà anh chết theo cà nhà em
-o-
Cơm kể ngày, cày kể buổi
-o-
Cơm khô là cơm chảo
Cơm nhão là cơm hà tiện
-o-
Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm
-o-
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè
-o-
Cu kêu từng cặp trên cây
Tào khương nghĩa nặng, sao mầy bỏ tao
-o-
Cúc mọc dưới sông anh kêu là cúc thủy
Sài gòn xa, chợ Mỹ cũng xa
Gởi thơ thăm hết nội nhà
Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em
-o-
Cùng nhau tớ trước thầy sau
Chim kêu vượn hú thêm đau đớn lòng
-o-
Của chua ai nấy cũng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm
-o-
Của làm ra để trên gác
Của cờ bạc để ngoài sân
Của phù vân để ngoài ngõ
-o-
Của mình mình giữ bo bo
Của người thì thả cho bò ăn no
-o-
Của một đồng, công một lượng
Công thì thưởng, tội thì trừng
Đặng không mừng, mất không lo
Ăn chưa no, lo chưa tới
Ăn cơm mới, nói chuyện cũ
Cha mẹ cú, đẻ con tiên
Cha mẹ hiền, sinh con thảo
-o-
Cũ người thì lại mới ta
Người chê rách rưới, ta cho là gấm nhung
-o-
Cũng trũng, cũng gò, cũng rẫy, đồng
Một bề biển lớn, ba bề sông
Bèo theo nước cuốn qua Vàm Láng
Nắng mở đường lên họp Chợ Giồng
Thế sự nếu dồn cơn nước nổi
Tình quê xin thắp bóng đèn chong
Ruộng biền, muối mặn đời thanh đạm
Dẫu giữa phù hoa, há lạt lòng
-o-
Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng khi về bủng beo
-o-
Cao su đi dễ khó về
Trai đi mất vợ gái về thêm con
-o-
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng hành
-o-
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non
-o-
Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước hôm sau người cười
Tim loan cháy lụn thiếp sầu tư một mình
-o-
Cau già dao bén thì ngon
Người già trang điểm phấn son cũng già
-o-
Cá bống còn ở trong hang
Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu
Ta về, ta sắm cần câu
Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng
-o-
Cá kèo mà gặp mắm tươi
Như nơi đất khách gặp người cố tri
-o-
Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư
-o-
Cá nục nấu với dưa hồng
Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi
-o-
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn
-o-
Cách sông mới phải lụy thuyền
Còn như đường liền ai phải lụy ai
-o-
Cái cò lặn lội bờ sông
Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền
-o-
Cái cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng
Có sáo, thì sáo nước trong
Đừng sáo nước đục, đau lòng cò con
-o-
Cái kiến mày kiện củ khoai
Chê em tao khó, lấy ai cho giàu
Nhà tao chín đụn, mười trâu
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân
Cầu này là cầu ái ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh
-o-
Cái quạt mười tám cái nan,
Ở giữa phết giấy hai nan hai đầu.
Quạt này anh để che đầu,
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt nàỵ
Ước gì chung mẹ chung thầy,
Để em giữ cái quạt này làm thân !
Rồi ta chung gối, chung chăn,
Chung quần chung áo, chung khăn dội đầu.
Nằm thời chung cái giường tàu,
Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi.
Ăn cơm chung cả một nồi,
Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa
Chải đầu chung cả lược ngà,
Soi gương chung cả nhành hoa giắt đầu.
-o-
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Anh thương em cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!
-o-
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em, xin sắm một con đò
Để em qua lại mua cò gởi thơ
-o-
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về
-o-
Cái ngủ mày ngủ cho say
Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày
-o-
Cái răng cái tóc là góc con người
-o-
Cát bay vàng lại ra vàng
Những người quân tử dạ càng đinh ninh
Đinh ninh ta để dạ này
Có công mài sắt, có ngày nên kim
-o-
Cà Mau hãy đến mà coi
Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội lềnh như bánh canh
-o-
Càng già càng dẻo càng dai
Càng gãy chân chõng, càng sai chân giường
-o-
Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon
-o-
Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng
-o-
Cần Thơ là tỉnh
Cao Lãnh là quê
Anh đi lục tỉnh bốn bề
Mảng lo buôn bán không về thăm em
-o-
Cậu cai nón dấu lông gà
Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai
Ba năm được một chuyến sai
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê
Cậu cai buông áo em ra
Ðể em đi bán kẻo mà chợ trưa
-o-
Cây cao bóng mát không ngồi
Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây
-o-
Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn
Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!
-o-
Cây khô không dễ mọc chồi
Mẹ già không thể sống đời với con
-o-
Cây không trồng nên lòng không tiếc
Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương
-o-
Cây trên rừng hoá kiểng
Cá dưới biển hoá long
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng
Đến đây trời khiến đem lòng thương em
-o-
Cây vông đồng không không trồng mà mọc
Con gái xóm này chẳng chọc mà theo
-o-
Cây xanh lá đỏ hoa vàng
Hạt đen rễ trắng đố chàng là chi
(đố là gì? Cây rau sam)
-o-
Cây xanh thời lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con
Mừng cây rồi lại mừng cành
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con
Ba vuông sánh với bảy tròn
Đời cha vinh hiển đời con sang giàu
-o-
Cậu cai buông áo em ra
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
Chợ trưa dưa nó héo đi
Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?
-o-
Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại
Bắt anh ra treo tại nhành dương
Biểu từ ai, anh từ đặng
Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ
-o-
Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày
-o-
Chanh chua thì khế cũng chua
Chanh bán có mùa, khế bán quanh năm
-o-
Cháu ơi cháu ngủ cho ngon
Của dì, dì giữ ai bòn mặc ai
-o-
Chàng ôi, giận thiếp mà chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng
-o-
Chàng về để áo lại đây
Để khuya em đắp gió khuya lạnh lùng
-o-
Chàng về để áo lại đây
Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn
-o-
Chặt không đứt, bứt không rời
Phơi không khô, chụm không cháy
(Đố là con gì? Con sam)
-o-
Chẳng tham ruộng cả, ao tiền
Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ
-o-
Chân đi ba bước lại dừng
Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn
Đi buôn cho đáng đi buôn
Đi buôn cau héo có buồn hay không
-o-
Chén tình là chén say sưa
Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu
-o-
Chẻ tre bện sáo cho dầy
Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em
-o-
Chê đắng chê hôi
Đã chê xôi không dẻo
Lại chê kẹo không ngọt
-o-
Chê đây, lấy đấy sao đành
Em chê cam sành , lấy phải quít hôi
Quít hôi bán một đồng mười
Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ
-o-
Chết trước được mồ, được mả
Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng
-o-
Chiếc khăn cô đội trên đầu
Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi
Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời
Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên
-o-
Chiếu bông mà trải góc đền
Muốn vô làm bé biết có bền hay không?
-o-
Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu
Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ
-o-
Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau
-o-
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người áo trắng khăn điều vắt vai
-o-
Chiều chiều , ông chánh về Tây
Cô ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn
Thông ngôn, ký lục bạc chục không màng
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay
-o-
Chiều chiều ông Lã Đông Tân
Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem
-o-
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
-o-
Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi
Sống làm chi mà chia ly thục nữ
Thác cho rồi đặng chữ thuỷ chung
-o-
Chiều chiều vịt lội cò bay
Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng
Vô rừng bứt một sợi mây
Đem về thắt gióng cho nàng đi buôn
-o-
Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc
Cá bãi trầu lội tuốt mương cau
-o-
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
-o-
Chim khôn mắc phải lưới hồng
Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng
Anh rằng anh chẳng lấy vàng
Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh
-o-
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi
-o-
Chim quyên xuống đất ăn trùng
Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than
-o-
Chim trời ai dễ đếm lông
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày
-o-
Chim xa bầy thương cây nhớ cội
Người xa người, tội lắm người ơi !
Thà rằng chẳng biết thì thôi,
Biết ra mỗi đứa một nơi sao đành ?
-o-
Chim xa cành còn thương nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà không gặp thì thôi
Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành
-o-
Chính chuyên chết cũng ra ma
Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng
-o-
Chì khoe chì nặng hơn đồng
Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông
-o-
Chị kia bới tóc đuôi gà
Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?
Nhà tui ở dưới đám dâu
Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua
-o-
Chị lấy chồng em gặm giò heo
Giò heo chị để chị treo
Em lấy giò mèo em gặm em chơi
-o-
Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ
-o-
Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Tay đâu mà bụm miệng người thế gian
-o-
Cho em trở lại đường xưa
Để em tìm lại gốc dừa cạnh ao
Lời anh âu yếm chiều nào
Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu
-o-
Chồng chài, vợ lưới con câu
Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò
-o-
Chồng chung chồng chạ
Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng
-o-
Chồng già vợ trẻ là duyên
Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời
-o-
Chồng già vợ trẻ là tiên
Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời
-o-
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì
Thưa anh, anh giận em chi
Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho
-o-
Chồng thấp mà lấy vợ cao
Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa
-o-
Chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch biết sao so bằng
-o-
Chơi hoa cho biết mùi hoa
Cầm cân cho biết cân già, cân non
-o-
Chuối non giú ép chát ngầm
Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm
-o-
Chuột kêu chút chít trong rương
Em đi cho khéo đụng giường mẹ hay
-o-
Chuyện đời chẳng ít thì nhiều
Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai
-o-
Chuyện người mặc kệ người lo
Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng
-o-
Chừng nào đá nổi rong chìm
Muối chua chanh mặn anh tìm được em
-o-
Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
Còn như yêu vụng nhớ thầm
Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì
-o-
Con ai đem bỏ chùa này
A di đà Phật, con thầy thầy nuôi
-o-
Con cá buôi quạt đuôi ra biển Bắc
Bơi dọc lội ngang không chắc trở về
-o-
Con cá đối nằm trên cối đá
Chim đa đa đậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dưng?
-o-
Con cá mày ở dưới ao
Tao tát nước vào mày sống được chăng
-o-
Con cá trong lờ đỏ hoe con mắt
Con cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô
-o-
Con chim chích choè
Nó đậu cành chanh
Tôi ném hòn sành
Nó quay lông lốc
Tôi làm một chốc
Được ba mâm đầy
Ông thầy ăn một
Bà cốt ăn hai
Cái thủ, cái tai
Tôi đem biếu chúa
Chúa hỏi chim gì
Con chim chích chòe..
-o-
Con chim mày ở trên cây
Tao đứng dưới gốc mày bay đường nào
-o-
Con chim nho nhỏ
Đỏ mỏ xanh lông
Đỏ mồng xanh kiếng
Nó kêu xao xuyến
Nhiều tiếng lạ lùng
Kêu sao cho quân tử nghe cùng
Phải duyên thì kết, phải lòng thì thương
-o-
Con có cha mẹ đẻ
Không ai ở lỗ nẻ chui lên
-o-
Con cóc là cậu ông trời
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho
Con cóc là cậu thầy nho
Hễ ai đánh chết trời cho quan tiền
-o-
Con công hay múa
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xoè cánh ra
Nó đậu cành đa
Nó kêu ríu rít
Nó đậu cành mít
Nó kêu vịt chè
Nó đậu cành tre
Nó kêu bè rau muống
Nó đậu dưới ruộng
Nó kêu tầm vông
Con công hay múa..
-o-
Con đỉa đeo bà
Con gà cục tác
Mỏ nhác cầm chèo
Con mèo cầm lái
Con rái chạy buồm
Con tôm tát nước...
-o-
Con gái giống cha giàu ba họ
Con trai giống mẹ khó ba đời
-o-
Con gái mà gả chồng xa
Một là mất giỗ hai là mất con
Con gái mà gả chồng gần
Có chén canh cần nó cũng đem cho
-o-
Con gái ông Bang che dù che lọng
Con gái bà bống thổi lửa tắt đèn.
-o-
Con hơn cha là nhà có phúc
-o-
Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà
-o-
Con không cha như nhà không nóc
Con không mẹ con khóc tối ngày
-o-
Con không chê cha mẹ khó
Chó không chê chủ nhà nghèo
-o-
Con kiến mày ở trong nhà
Tao đóng cửa lại mày ra đường nào?
-o-
Con lên ba cả nhà học nói
-o-
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm, mua muối giỗ cha con mèo
-o-
Con mèo con chuột có lông
Cây tre có mắt, nồi đồng có quai
-o-
Con nhà lính, tính nhà quan
-o-
Con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh
-o-
Con quốc kêu réo rắt trên ngàn
Gà rừng táo tác gọi con tha mồi
Lạnh lùng thay láng giềng ôi
Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều
-o-
Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn
-o-
Con ơi học lấy nghề cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm
-o-
Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
-o-
Con sâu làm rầu nồi canh
Một người làm xấu, nhơ danh cả nhà
-o-
Con sông bên lở, bên bồi
Bên lở thì đục, bên bồi thì trong
Sông kia nước chảy đôi dòng
Biết rằng bên đục, bên trong bên nào!
-o-
Con út con ít như mít chín cây
Gái cũng như trai, ai ai cũng chuộng
-o-
Con vua thì được làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa
-o-
Có cây mới có dây leo
Có cột có kèo, mới có đòn tay
-o-
Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây
-o-
Có chồng mà chẳng có con
Khác gì hoa nở trên non một mình
-o-
Có chum cá mới ở đìa
Có em anh mới sớm khuya chốn này
-o-
Có con mà gả chồng gần
Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha
Có con mà gả chồng xa
Ba phần ruộng trẻo chẳng ma nào cày
-o-
Có công mài sắt có ngày nên kim
-o-
Có của thì có mẹ nàng
Có bạc có vàng thì có kẻ ưa
Chị là con gái nhà giầu
Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen
Em là con gái nhà hèn
Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè
-o-
Có đâu sen, ấu một bồn?
Có đâu chanh, khế sánh phần lựu lê?
-o-
Có đỏ mà chẳng có thơm
Như hoa dâm bụt nên cơm cháo gì!
-o-
Có gió giông hung mới biết tùng bá cứng
Nhờ ngọn lửa hồng mới rõ thức vàng cao
Thuyền quyên sánh với anh hào
Vốn không thả lý, gieo đào như ai!
-o-
Có làm mới có ăn
Ngồi không ai dễ đem phần tới cho
-o-
Có lòng xin tạ ơn lòng
Xin đừng đi lại mà chồng em ghen
-o-
Có phước đẻ con biết lội
Có tội đẻ con hay trèo
-o-
Có phước lấy được vợ già
Sạch cửa sạch nhà, lại ngọt canh cơm
Vô phước, lấy phải trẻ ranh
Nó ăn, nó phá tan tành nó đi
-o-
Có thằng chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ
Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh
Có thằng chồng say như trong chay ngoài hội
Ngó vô nhà như hội tầm vu
-o-
Có yêu thời nói rằng yêu
Chẳng yêu, thì nói một điều cho xong
Làm chi dở đục, dở trong
Lờ đờ như nước cho lòng chẳng an
-o-
Còn ăn còn ngủ còn gân
Không ăn không ngủ có mần được chi
-o-
Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha thác, gót con đen xì
-o-
Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên ông lão cũng quơ làm chồng
-o-
Còn duyên như tượng tô vàng
Hết duyên như ổ ong tàn ngày mưa
-o-
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình
-o-
Còn đêm nay nữa mai đi
Lạng vàng không tiếc, tiếc chi ngồi kề
Còn đêm nay nữa, mai về
Lạng vàng không tiếc, tiếc kề má son
-o-
Còn trời còn nước còn non
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa
-o-
Cỏ mọc bờ giếng cheo leo
Lâm chung có bậu, hiểm nghèo có qua
-o-
Cõng rắn cắn gà nhà
Rước voi dày mả tổ
-o-
Cô ấy mà lấy anh này
Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu
Ngồi trong cửa sổ têm trầu
Có hai con nhỏ đứng hầu hai bên
-o-
Cô kia má đỏ hồng hồng
Cô chưa lấy chồng, còn chờ đợi ai
Buồng không lần lữa hôm mai
Đầu xanh mấy chốc, da mồi tóc sương
-o-
Công anh chẻ nứa đan bồ
Con chị đi mất, anh vồ con em
Công anh rọc lá gói nem
Con chị đi mất, con em trốn chồng
-o-
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
-o-
Cổ tay em trắng lại tròn
Để cho ai gối nó mòn một bên
-o-
Công anh làm rể có tài
một mình ăn hết mười hai vại cà
giếng đâu thì dắt anh ra
kẻo mà anh chết theo cà nhà em
-o-
Cơm kể ngày, cày kể buổi
-o-
Cơm khô là cơm chảo
Cơm nhão là cơm hà tiện
-o-
Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm
-o-
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè
-o-
Cu kêu từng cặp trên cây
Tào khương nghĩa nặng, sao mầy bỏ tao
-o-
Cúc mọc dưới sông anh kêu là cúc thủy
Sài gòn xa, chợ Mỹ cũng xa
Gởi thơ thăm hết nội nhà
Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em
-o-
Cùng nhau tớ trước thầy sau
Chim kêu vượn hú thêm đau đớn lòng
-o-
Của chua ai nấy cũng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm
-o-
Của làm ra để trên gác
Của cờ bạc để ngoài sân
Của phù vân để ngoài ngõ
-o-
Của mình mình giữ bo bo
Của người thì thả cho bò ăn no
-o-
Của một đồng, công một lượng
Công thì thưởng, tội thì trừng
Đặng không mừng, mất không lo
Ăn chưa no, lo chưa tới
Ăn cơm mới, nói chuyện cũ
Cha mẹ cú, đẻ con tiên
Cha mẹ hiền, sinh con thảo
-o-
Cũ người thì lại mới ta
Người chê rách rưới, ta cho là gấm nhung
-o-
Cũng trũng, cũng gò, cũng rẫy, đồng
Một bề biển lớn, ba bề sông
Bèo theo nước cuốn qua Vàm Láng
Nắng mở đường lên họp Chợ Giồng
Thế sự nếu dồn cơn nước nổi
Tình quê xin thắp bóng đèn chong
Ruộng biền, muối mặn đời thanh đạm
Dẫu giữa phù hoa, há lạt lòng
-o-
Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng khi về bủng beo
-o-
Cao su đi dễ khó về
Trai đi mất vợ gái về thêm con
-o-
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng hành
-o-
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non
-o-
Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước hôm sau người cười
Ca
dao vần B
Bà già đeo bị hạt tiêu
Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay
-o-
Ba tiền một khúc cá buôi
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già
-o-
Ba trăng là mấy mươi hôm,
Mai Nam nắng trước, chiều Nồm quạnh sau
Chàng ơi đừng phụ khó tham giàu
Khi lành tôn trượng, khi đau phụ phàng.
-o-
Bạc sao bạc chẳng vừa thôi
Để cho nước chảy hoa trôi lỡ làng
-o-
Bắc thang lên hái hoa vàng
Vì ai cho thiếp biết chàng từ đây
-o-
Bạn bè là nghĩa tương tri
Sao cho sau trước vẹn bề mới nên
-o-
Bạn nghèo thuở trước chớ quên
Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình
-o-
Bàn tay còn có ngón dài, ngón vắn,
Con một nhà đứa trắng đứa đen,
Hễ ăn vóc học quen,
Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn cũng phải hay
-o-
Bạn vàng lại gặp bạn vàng
Long Lân Quy Phụng một đoàn tứ linh
-o-
Bao giờ cho đặng thảnh thơi,
Tay têm thuốc cống, miệng mời lang quân
-o-
Bao giờ cho đến tháng Mười
Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn
-o-
Bao giờ cho đến tháng Năm
Thổi nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn
-o-
Bao giờ mưa thuận gió hòa
Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng
-o-
Bao phen quạ nói với diều
Sau nhà cô Huệ có nhiều gà con
-o-
Bậu chê qua ở rẫy ăn còng
Bậu về ở chợ ăn ròng mắm nêm
-o-
Bây giờ gặp phải hội này
Khi trời hạn hán, khi hay mưa dầm
Khi trời gió bão ầm ầm,
Đồng tiền lúa thóc, mười phần được ba
-o-
Bấy lâu nay em ở ven rừng,
Chim kêu, vượn hú, em nửa mừng nửa lo
-o-
Bé nhưng mà bé hạt tiêu
Bé cay bé đắng bé xiêu lòng người
-o-
Bên sông thanh vắng một mình
Có ông ngư phủ biết tình mà thôi
-o-
Biên Hòa có bưởi Thanh Trà
Thủ Đức nem nướng, điện Bà Tây Ninh
-o-
Bớ chiếc ghe sau chèo mau em đợi,
Cho khỏi khúc sông này bờ bụi tối tăm
-o-
Bóng trăng anh tưởng bóng đèn
Bóng cây anh ngỡ bóng thuyền em sang
-o-
Bông chi thơm lạ thơm lùng
Thơm cây, thơm lá, người trồng cũng thơm
-o-
Bữa ăn có cá cùng canh
Anh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng
-o-
Buồn chẳng muốn nói, gọi chẳng muốn trông
Tưởng sự lấy chồng, tỉnh như con sáo
-o-
Buồn tình cha chả buồn tình
Không ai nói chuyện với mình cho vui
-o-
Ba cô đội gạo lên chùa
một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
sư về sư ốm tương tư
ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu
ai làm cho dạ sư sầu
cho ruột sư héo như bầu đứt dây
-o-
Ba đồng một mớ đàn ông
Đem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi
-o-
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
-o-
Ba năm ở với người đần
Chẳng bằng một lúc ghé gần người khôn
-o-
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
-o-
Bao giờ cạn rạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền
-o-
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta
-o-
Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
Bao giờ trích đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước, thì ta lấy mình
-o-
Bao giờ cho khỉ đeo hoa
Cho voi đánh sáp, cho gà nhuộm răng
-o-
Bao giờ nước ngọt đường cay
Gánh vừa lon gạo thì thằng Tây ở tù
-o-
Bao giờ sen mọc biển đông
Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi
-o-
Bao phen lên ngựa ra về
Cầm cương níu lại xin đề câu thơ
Câu thơ ba bốn câu thơ
Câu đợi, câu chờ, câu nhớ, câu mong
-o-
Bao phen quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
-o-
Bánh cả mâm, sao em kêu rằng bánh ít?
Trầu cả chợ, sao em gọi là trầu không?
Trai nam nhi không đối đặng
Gái má hồng xin thử đối xem!
-o-
Bà con khó xin đừng bỏ
Kẻ lạ dầu sang cũng chớ đua
-o-
Bà già đã tám mươi tư
Ngồi trong cửa sổ gởi thư lấy chồng
-o-
Bà già đi chợ Cầu Bông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Xem rằng ông mới bói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn
-o-
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu
-o-
Bảy với ba tính ra một chục
Còn tam tứ lục cộng lại cửu chương
Liệu bề đát được thì thương
Đừng gầy rồi bỏ, thế thường cười chê
-o-
Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm
-o-
Bắt con ngựa ngựa ô, ngựa ô tra khớp
Lục lạc đồng đen, em mang hài tốt
Ngấy ngây muôn dặm đường dài
Cá rô róc rách ruộng cày
Ai ghẹo gì mày hỡi cá rô con?
-o-
Bắc thang lên hỏi ông trời
Bỏ tiền cho gái có đòi được chăng!
-o-
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thời đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!
-o-
Bây giờ tui biết phận tui
Chỉ là cơm nguội phòng khi đói lòng
-o-
Bấy lâu vắng mặt khát khao
Bây giờ thấy mặt muốn cào mặt ra
-o-
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn
-o-
Bậu buồn, qua dễ chẳng buồn
Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay
-o-
Bên kia sông, ai lập kiểng chùa Tân Thiện
Bên này sông, qua lập cái huyện Hà Đông
Cái huyện Hà Đông để cho ông Bao Công xử kiện
Cái chùa Tân Thiện nhiều kẻ tu hành
Chim kêu dưới suối trên cành
Qua không bỏ bậu, sao bậu đành bỏ qua
-o-
Bên này sông em bắc cây cầu mười tấm ván
Bên kia sông em lập cái quán mười hai từng
Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng đợi anh
-o-
Bến em có gốc dừa tơ
Đêm trăng em đứng em chờ đợi ai?
-o-
Biết bao gái đẹp như hoa
Vỡ trâm, gãy xuyến, chìm thoa, rơi vàng
-o-
Bồ câu bồ các
Tha rác lên cây
Gió đánh lung lay
Là vua Cao Tổ
Những người mặt rỗ
Là ông Tiêu Hà
Nước chảy đường qua
Là dượng Tào Tháo
Đánh bạc cầm áo
Là anh Trần Bình
-o-
Biết nhau từ thuở buông thừng
Trăm chắp nghìn nối, xin đừng quên nhau
-o-
Biết thì thưa thốt
Không biết thì dựa cột mà nghe
-o-
Biển sâu, con cá lớn vẫy vùng
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng bay cao
-o-
Biển trời đua sắc vẫy vùng
Nữ nhi sánh với anh hùng được nao!
-o-
Biểu về nói với ông câu
Cá ăn thì giựt, để lâu hết mồi
-o-
Bì phấn với vôi
Bì con ông lái với tôi chân sào
-o-
Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê
-o-
Bông sứ cùng với bông lài
Tui quyết bẻ hết, khỏi ai cằn nhằn
-o-
Bốn ông mà ngồi một bàn
Cùng uống một chén, cùng than một lời
-o-
Bờ sông lại lở xuống sông
Đàn bà mà lấy đàn ông, thiệt gì
-o-
Bởi anh đành đoạn
Đốn ngọn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Thương anh em phải sớm hôm
-o-
Bởi anh trăm việc canh nông
Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài
-o-
Buồn ngủ lại gặp chiếu manh
Hay ăn, làm biếng gặp anh đứng đường
-o-
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai
-o-
Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai
Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta
Buồn về một nỗi tháng ba
Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ
Buồn về một nỗi tháng tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn
Buồn về một nỗi tháng năm
Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu
-o-
Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt
Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon
-o-
Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo
Lựu xa đào, lựu xéo đào xiên
Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền
Chỉ phiền một nỗi nợ với duyên không tròn
-o-
Bươm bướm mà đậu cành bông
Đã dê con chị, lại bồng con em
-o-
Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng
Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai
-o-
Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời
Canh hai vật đổi sao dời
Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung
Canh ba cờ phất trống rung
Mặc ai ai thẳng ai dùn mặc ai
Canh tư hạc đậu cành mai
Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
Canh chầy tơ tưởng tưởng tơ
Chiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu không
-o-
Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm
Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu?
-o-
Bước xuống ruộng sâu, em mang sầu tấc dạ
Tay em ôm bó mạ, lệ ứa hai hàng
Ai làm lỡ chuyến đò ngang
Cho loan với phượng đôi hàng biệt ly
-o-
Bực mình chẳng muốn nói ra
Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời
Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay
-o-
Ba tiền một khúc cá buôi
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già
-o-
Ba trăng là mấy mươi hôm,
Mai Nam nắng trước, chiều Nồm quạnh sau
Chàng ơi đừng phụ khó tham giàu
Khi lành tôn trượng, khi đau phụ phàng.
-o-
Bạc sao bạc chẳng vừa thôi
Để cho nước chảy hoa trôi lỡ làng
-o-
Bắc thang lên hái hoa vàng
Vì ai cho thiếp biết chàng từ đây
-o-
Bạn bè là nghĩa tương tri
Sao cho sau trước vẹn bề mới nên
-o-
Bạn nghèo thuở trước chớ quên
Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình
-o-
Bàn tay còn có ngón dài, ngón vắn,
Con một nhà đứa trắng đứa đen,
Hễ ăn vóc học quen,
Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn cũng phải hay
-o-
Bạn vàng lại gặp bạn vàng
Long Lân Quy Phụng một đoàn tứ linh
-o-
Bao giờ cho đặng thảnh thơi,
Tay têm thuốc cống, miệng mời lang quân
-o-
Bao giờ cho đến tháng Mười
Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn
-o-
Bao giờ cho đến tháng Năm
Thổi nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn
-o-
Bao giờ mưa thuận gió hòa
Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng
-o-
Bao phen quạ nói với diều
Sau nhà cô Huệ có nhiều gà con
-o-
Bậu chê qua ở rẫy ăn còng
Bậu về ở chợ ăn ròng mắm nêm
-o-
Bây giờ gặp phải hội này
Khi trời hạn hán, khi hay mưa dầm
Khi trời gió bão ầm ầm,
Đồng tiền lúa thóc, mười phần được ba
-o-
Bấy lâu nay em ở ven rừng,
Chim kêu, vượn hú, em nửa mừng nửa lo
-o-
Bé nhưng mà bé hạt tiêu
Bé cay bé đắng bé xiêu lòng người
-o-
Bên sông thanh vắng một mình
Có ông ngư phủ biết tình mà thôi
-o-
Biên Hòa có bưởi Thanh Trà
Thủ Đức nem nướng, điện Bà Tây Ninh
-o-
Bớ chiếc ghe sau chèo mau em đợi,
Cho khỏi khúc sông này bờ bụi tối tăm
-o-
Bóng trăng anh tưởng bóng đèn
Bóng cây anh ngỡ bóng thuyền em sang
-o-
Bông chi thơm lạ thơm lùng
Thơm cây, thơm lá, người trồng cũng thơm
-o-
Bữa ăn có cá cùng canh
Anh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng
-o-
Buồn chẳng muốn nói, gọi chẳng muốn trông
Tưởng sự lấy chồng, tỉnh như con sáo
-o-
Buồn tình cha chả buồn tình
Không ai nói chuyện với mình cho vui
-o-
Ba cô đội gạo lên chùa
một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
sư về sư ốm tương tư
ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu
ai làm cho dạ sư sầu
cho ruột sư héo như bầu đứt dây
-o-
Ba đồng một mớ đàn ông
Đem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi
-o-
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
-o-
Ba năm ở với người đần
Chẳng bằng một lúc ghé gần người khôn
-o-
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
-o-
Bao giờ cạn rạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền
-o-
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta
-o-
Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
Bao giờ trích đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước, thì ta lấy mình
-o-
Bao giờ cho khỉ đeo hoa
Cho voi đánh sáp, cho gà nhuộm răng
-o-
Bao giờ nước ngọt đường cay
Gánh vừa lon gạo thì thằng Tây ở tù
-o-
Bao giờ sen mọc biển đông
Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi
-o-
Bao phen lên ngựa ra về
Cầm cương níu lại xin đề câu thơ
Câu thơ ba bốn câu thơ
Câu đợi, câu chờ, câu nhớ, câu mong
-o-
Bao phen quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
-o-
Bánh cả mâm, sao em kêu rằng bánh ít?
Trầu cả chợ, sao em gọi là trầu không?
Trai nam nhi không đối đặng
Gái má hồng xin thử đối xem!
-o-
Bà con khó xin đừng bỏ
Kẻ lạ dầu sang cũng chớ đua
-o-
Bà già đã tám mươi tư
Ngồi trong cửa sổ gởi thư lấy chồng
-o-
Bà già đi chợ Cầu Bông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Xem rằng ông mới bói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn
-o-
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu
-o-
Bảy với ba tính ra một chục
Còn tam tứ lục cộng lại cửu chương
Liệu bề đát được thì thương
Đừng gầy rồi bỏ, thế thường cười chê
-o-
Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm
-o-
Bắt con ngựa ngựa ô, ngựa ô tra khớp
Lục lạc đồng đen, em mang hài tốt
Ngấy ngây muôn dặm đường dài
Cá rô róc rách ruộng cày
Ai ghẹo gì mày hỡi cá rô con?
-o-
Bắc thang lên hỏi ông trời
Bỏ tiền cho gái có đòi được chăng!
-o-
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thời đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!
-o-
Bây giờ tui biết phận tui
Chỉ là cơm nguội phòng khi đói lòng
-o-
Bấy lâu vắng mặt khát khao
Bây giờ thấy mặt muốn cào mặt ra
-o-
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn
-o-
Bậu buồn, qua dễ chẳng buồn
Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay
-o-
Bên kia sông, ai lập kiểng chùa Tân Thiện
Bên này sông, qua lập cái huyện Hà Đông
Cái huyện Hà Đông để cho ông Bao Công xử kiện
Cái chùa Tân Thiện nhiều kẻ tu hành
Chim kêu dưới suối trên cành
Qua không bỏ bậu, sao bậu đành bỏ qua
-o-
Bên này sông em bắc cây cầu mười tấm ván
Bên kia sông em lập cái quán mười hai từng
Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng đợi anh
-o-
Bến em có gốc dừa tơ
Đêm trăng em đứng em chờ đợi ai?
-o-
Biết bao gái đẹp như hoa
Vỡ trâm, gãy xuyến, chìm thoa, rơi vàng
-o-
Bồ câu bồ các
Tha rác lên cây
Gió đánh lung lay
Là vua Cao Tổ
Những người mặt rỗ
Là ông Tiêu Hà
Nước chảy đường qua
Là dượng Tào Tháo
Đánh bạc cầm áo
Là anh Trần Bình
-o-
Biết nhau từ thuở buông thừng
Trăm chắp nghìn nối, xin đừng quên nhau
-o-
Biết thì thưa thốt
Không biết thì dựa cột mà nghe
-o-
Biển sâu, con cá lớn vẫy vùng
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng bay cao
-o-
Biển trời đua sắc vẫy vùng
Nữ nhi sánh với anh hùng được nao!
-o-
Biểu về nói với ông câu
Cá ăn thì giựt, để lâu hết mồi
-o-
Bì phấn với vôi
Bì con ông lái với tôi chân sào
-o-
Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê
-o-
Bông sứ cùng với bông lài
Tui quyết bẻ hết, khỏi ai cằn nhằn
-o-
Bốn ông mà ngồi một bàn
Cùng uống một chén, cùng than một lời
-o-
Bờ sông lại lở xuống sông
Đàn bà mà lấy đàn ông, thiệt gì
-o-
Bởi anh đành đoạn
Đốn ngọn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Thương anh em phải sớm hôm
-o-
Bởi anh trăm việc canh nông
Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài
-o-
Buồn ngủ lại gặp chiếu manh
Hay ăn, làm biếng gặp anh đứng đường
-o-
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai
-o-
Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai
Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta
Buồn về một nỗi tháng ba
Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ
Buồn về một nỗi tháng tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn
Buồn về một nỗi tháng năm
Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu
-o-
Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt
Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon
-o-
Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo
Lựu xa đào, lựu xéo đào xiên
Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền
Chỉ phiền một nỗi nợ với duyên không tròn
-o-
Bươm bướm mà đậu cành bông
Đã dê con chị, lại bồng con em
-o-
Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng
Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai
-o-
Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời
Canh hai vật đổi sao dời
Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung
Canh ba cờ phất trống rung
Mặc ai ai thẳng ai dùn mặc ai
Canh tư hạc đậu cành mai
Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
Canh chầy tơ tưởng tưởng tơ
Chiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu không
-o-
Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm
Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu?
-o-
Bước xuống ruộng sâu, em mang sầu tấc dạ
Tay em ôm bó mạ, lệ ứa hai hàng
Ai làm lỡ chuyến đò ngang
Cho loan với phượng đôi hàng biệt ly
-o-
Bực mình chẳng muốn nói ra
Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời
Ca
dao vần A
Ai đi bờ đắp một mình
Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân
-o-
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
-o-
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy
-o-
Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa
Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào
Ai đi sục sịch ngoài hàng rào
Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa
-o-
Ai kêu là rạch, em gọi là sông
Phù sa theo nước chảy mênh mông
Sông ơi, thấm mát đời con gái
Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng
-o-
Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
-o-
Ai ơi chí ở cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai
Dù ai nói Đông nói Tây,
Ta đây vẫn vững như cây giữa rừng
-o-
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành
-o-
Ai ơi ừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu
-o-
Ai về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
-o-
Anh đi ba bữa anh về
Rừng sâu nước độc anh đừng ở lâu
-o-
Anh em bốn bể là nhà
Người dưng khác họ vẫn là anh em
-o-
Anh ơi đi lính cho Tây
Con dại cả bầy bỏ lại ai nuôi
-o-
Anh ơi uống rượu thì say,
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo
-o-
Anh tỷ như phận anh
Chẳng thà ở lều tranh
Như thầy Tăng, thầy Lộ
Cũng không ham mộ,
Như Vương Khải, Thạch Sùng
Đạo người giữ vẹn, bần cùng sá chi
-o-
Anh về bán ruộng cây da
Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em.
-o-
Anh về đếm hết sao trời
Em đây kết tóc ở đời với anh
-o-
Ăn lắm thì hết miếng ngon
Nói lắm thì hết lời khôn hóa rồ
-o-
Ăn đong cho đáng ăn đong
Lấy chồng cho đáng hình dong con người
-o-
Ai cũng tưởng bậu hiền
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai
-o-
Ai buồn ai khóc thiết tha
Tui vui tui cũng chan hoà giọt châu
-o-
Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay cao
-o-
Ai đi đường ấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, đi tìm biển Đông
-o-
Ai làm Nam Bắc phân kỳ
Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương
-o-
Ai mà nói dối cùng ai
Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng
Ai mà nói dối cùng chồng
Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao
-o-
Ai nhứt thì tôi đứng nhì
Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba
-o-
Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sòng sọc nó thì theo sau
-o-
Ai ơi chớ nghĩ mình hèn
Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong
-o-
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước hôm sau người cười
-o-
Ai ơi đã quyết thì hành
Đã đốn thì vác cả cành lẫn cây
-o-
Ai ơi đã quyết thì hành
Đã đan thì lặn, tròn vành mới thôi
-o-
Ai ơi đừng lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Hay nằm thời có võng đào
Dài lưng thời có áo chào nhà vua
Hay ăn thời có gạo kho
Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm
-o-
Ai ơi đừng lấy pháo binh
Nửa đêm nó bắn rung rinh cái giường
-o-
Ai ơi ở chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai
-o-
Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo, tôi không dám phụ ai
Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Ai dè giếng cạn, tiếc hoài sợi dây
-o-
Ai về ai ở mặc ai
Áo dài ở lại, đến mai hãy về
-o-
Ai về Bình Định mà coi
Đàn bà cũng biết múa roi, đi quờn
-o-
Ai về em gởi bức thơ
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao
Non kia ai đắp mà cao
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu
-o-
Anh buồn có chỗ thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya
-o-
Anh đánh thì em chịu đòn
Tánh em hoa nguyệt mười con chẳng chừa
-o-
Anh đã có vợ hay chưa?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh
-o-
Anh đâu phải mê bông quế mà bỏ phế cái bông lài
Quế thơm ban ngày, lài ngát ban đêm
-o-
Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh
Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng
-o-
Anh đi em một ngó chừng
Ngó sông sông rộng, ngó rừng rừng sâu
-o-
Anh đi em một ngó chừng
Ngó trăng trăng lặn, ngó rừng rừng sâu
-o-
Anh đi, em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ
Lầm than bao quản muối dưa
Anh đi, anh liệu chen đua với đời
-o-
Anh đi kiệu lộng ba bông
Bỏ em cấy lúa đồng không một mình
-o-
Anh gặp em hồi đứng bóng đang trưa
Trách trời sao vội tối, anh chưa phân cạn lời
-o-
Anh Hai, anh tính đi "mô" ?
Tôi đi chợ Tết, mua khô cá thiều
-o-
Anh hít cái bông bưởi, anh còn hửi cái bông cam
Anh thích nấm tràm, anh lại ham nấm mối
-o-
Anh lấy được em bỏ công ao ước
Em lấy được anh thoả dạ ước ao
-o-
Anh mau thức dậy học bài
Mong cho anh sớm thành tài
Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha
Sau là không phụ tình ta bao ngày
-o-
Anh này rõ khéo làm ăn
Đi cày chẳng biết, chít khăn mượn người
-o-
Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm
Nằm đêm nghĩ lại nát bằm lá gan
-o-
Anh ơi anh ở lại nhà
Thôi đừng vui thú nguyệt hoa chơi bời
Còn tiền kẻ rước, người mời
Hết tiền, chẳng thấy một người nào ưa
-o-
Anh ơi em chẳng lấy đâu
Anh đừng cạo mặt, nhổ râu tốn tiền
-o-
Anh ơi nơm cá xong chưa
Xuồng em neo đợi chờ trưa anh về
-o-
Anh say rượu ngày mai sẽ tỉnh
Kẻ say tình, mãi không tỉnh đâu em
-o-
Anh thương em, thương quấn thương quít
Anh bồng ra gốc mít, anh bồng khít gốc chanh
Anh bồng quanh đám sậy, anh bồng bậy vô mui
Anh bồng lui sau lái, anh bồng ngoáy trước mũi
-o-
Anh thương em trầu hết lá lươn
Cau hết nửa vườn, cha với mẹ nào hay
Dầu mà cha mẹ có hay
Nhứt đánh nhì đày, hai lẽ mà thôi
Gươm vàng để đó em ôi
Chết thì chịu chết, lìa đôi anh không lìa
-o-
Anh về đô thị hôm nao
Gió lay cây choại, lệ trào mi em
-o-
Anh về em chẳng dám đưa
Hai hàng nước mắt như mưa tháng mười
-o-
Anh về làm rể ăn cơm với cá
Em về làm dâu ăn rau má với rạm đồng
-o-
Anh với em mà tựa vai kề
Nay dù em có lạc Sở sang Tề
Thì em cũng nên gởi thơ về một lá đặng cho anh hay
-o-
Áo anh đứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
-o-
Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn không ngủ, mất tiền thêm lo
-o-
Ăn sao cho được mà mời
Thương sao cho được vợ người mà thương
-o-
Ăn cây sung ngồi gốc cây sung
Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm
-o-
Ăn tàn ăn mạt, ăn nát cửa nhà
Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi
-o-
Ăn trái nhớ kẻ trồng cây
Uống nước nhớ người đào giếng
-o-
Ầu ơ... Anh về bán đất cây da
Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
-o-
Ầu ơ... Bồng bống bông bông
Lớn lên con phải cố học hành
Học là học đạo làm người
Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê
-o-
Ầu ơ... Cháu ơi cháu ngủ cho lâu
Mẹ cháu đi cấy đồng sâu chưa về
Chừng về bắt được con cá trê
Tròng cổ mang về bà cháu mình ăn
-o-
Ầu ơ... Chim quyên lẻ bạn, than thở một mình
Bây giờ mình lẻ bạn (ơ) một mình, mình thở than
-o-
Ầu ơ... Em tôi khát sữa bú tay
Ai cho bú thép ngày rày mang ơn
-o-
Ầu ơ... Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
-o-
Ầu ơ... Má ơi đừng đánh con đau
Để con hát bội làm đào má coi
-o-
Ầu ơ... Mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con bắt cá hái rau mẹ dùng
Bắt cá, cá lội trên đàng
Hái rau rau héo, hỏi sao mẹ dùng hả con?...
-o-
Ầu ơ... Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ
Sao anh không học đặng nhờ tấm thân?
-o-
Ầu ơ... Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Liệu bề đát được thì đương
Đừng gầy rồi bỏ thói thường cười chê
-o-
Ầu ơ... Ví dầu cá bống đánh đu
Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu
-o-
Ầu ơ... Ví dầu cá lóc nấu canh
Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm
-o-
Ầu ơ... Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Bậu ra bậu lấy ông câu
Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu
Kho tiêu kho ớt kho hành
Kho ba lượng thịt để dành mẹ ăn
-o-
Ầu ơ... Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng
Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân
-o-
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
-o-
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy
-o-
Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa
Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào
Ai đi sục sịch ngoài hàng rào
Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa
-o-
Ai kêu là rạch, em gọi là sông
Phù sa theo nước chảy mênh mông
Sông ơi, thấm mát đời con gái
Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng
-o-
Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
-o-
Ai ơi chí ở cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai
Dù ai nói Đông nói Tây,
Ta đây vẫn vững như cây giữa rừng
-o-
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành
-o-
Ai ơi ừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu
-o-
Ai về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
-o-
Anh đi ba bữa anh về
Rừng sâu nước độc anh đừng ở lâu
-o-
Anh em bốn bể là nhà
Người dưng khác họ vẫn là anh em
-o-
Anh ơi đi lính cho Tây
Con dại cả bầy bỏ lại ai nuôi
-o-
Anh ơi uống rượu thì say,
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo
-o-
Anh tỷ như phận anh
Chẳng thà ở lều tranh
Như thầy Tăng, thầy Lộ
Cũng không ham mộ,
Như Vương Khải, Thạch Sùng
Đạo người giữ vẹn, bần cùng sá chi
-o-
Anh về bán ruộng cây da
Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em.
-o-
Anh về đếm hết sao trời
Em đây kết tóc ở đời với anh
-o-
Ăn lắm thì hết miếng ngon
Nói lắm thì hết lời khôn hóa rồ
-o-
Ăn đong cho đáng ăn đong
Lấy chồng cho đáng hình dong con người
-o-
Ai cũng tưởng bậu hiền
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai
-o-
Ai buồn ai khóc thiết tha
Tui vui tui cũng chan hoà giọt châu
-o-
Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay cao
-o-
Ai đi đường ấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, đi tìm biển Đông
-o-
Ai làm Nam Bắc phân kỳ
Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương
-o-
Ai mà nói dối cùng ai
Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng
Ai mà nói dối cùng chồng
Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao
-o-
Ai nhứt thì tôi đứng nhì
Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba
-o-
Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sòng sọc nó thì theo sau
-o-
Ai ơi chớ nghĩ mình hèn
Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong
-o-
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước hôm sau người cười
-o-
Ai ơi đã quyết thì hành
Đã đốn thì vác cả cành lẫn cây
-o-
Ai ơi đã quyết thì hành
Đã đan thì lặn, tròn vành mới thôi
-o-
Ai ơi đừng lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Hay nằm thời có võng đào
Dài lưng thời có áo chào nhà vua
Hay ăn thời có gạo kho
Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm
-o-
Ai ơi đừng lấy pháo binh
Nửa đêm nó bắn rung rinh cái giường
-o-
Ai ơi ở chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai
-o-
Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo, tôi không dám phụ ai
Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Ai dè giếng cạn, tiếc hoài sợi dây
-o-
Ai về ai ở mặc ai
Áo dài ở lại, đến mai hãy về
-o-
Ai về Bình Định mà coi
Đàn bà cũng biết múa roi, đi quờn
-o-
Ai về em gởi bức thơ
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao
Non kia ai đắp mà cao
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu
-o-
Anh buồn có chỗ thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya
-o-
Anh đánh thì em chịu đòn
Tánh em hoa nguyệt mười con chẳng chừa
-o-
Anh đã có vợ hay chưa?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh
-o-
Anh đâu phải mê bông quế mà bỏ phế cái bông lài
Quế thơm ban ngày, lài ngát ban đêm
-o-
Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh
Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng
-o-
Anh đi em một ngó chừng
Ngó sông sông rộng, ngó rừng rừng sâu
-o-
Anh đi em một ngó chừng
Ngó trăng trăng lặn, ngó rừng rừng sâu
-o-
Anh đi, em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ
Lầm than bao quản muối dưa
Anh đi, anh liệu chen đua với đời
-o-
Anh đi kiệu lộng ba bông
Bỏ em cấy lúa đồng không một mình
-o-
Anh gặp em hồi đứng bóng đang trưa
Trách trời sao vội tối, anh chưa phân cạn lời
-o-
Anh Hai, anh tính đi "mô" ?
Tôi đi chợ Tết, mua khô cá thiều
-o-
Anh hít cái bông bưởi, anh còn hửi cái bông cam
Anh thích nấm tràm, anh lại ham nấm mối
-o-
Anh lấy được em bỏ công ao ước
Em lấy được anh thoả dạ ước ao
-o-
Anh mau thức dậy học bài
Mong cho anh sớm thành tài
Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha
Sau là không phụ tình ta bao ngày
-o-
Anh này rõ khéo làm ăn
Đi cày chẳng biết, chít khăn mượn người
-o-
Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm
Nằm đêm nghĩ lại nát bằm lá gan
-o-
Anh ơi anh ở lại nhà
Thôi đừng vui thú nguyệt hoa chơi bời
Còn tiền kẻ rước, người mời
Hết tiền, chẳng thấy một người nào ưa
-o-
Anh ơi em chẳng lấy đâu
Anh đừng cạo mặt, nhổ râu tốn tiền
-o-
Anh ơi nơm cá xong chưa
Xuồng em neo đợi chờ trưa anh về
-o-
Anh say rượu ngày mai sẽ tỉnh
Kẻ say tình, mãi không tỉnh đâu em
-o-
Anh thương em, thương quấn thương quít
Anh bồng ra gốc mít, anh bồng khít gốc chanh
Anh bồng quanh đám sậy, anh bồng bậy vô mui
Anh bồng lui sau lái, anh bồng ngoáy trước mũi
-o-
Anh thương em trầu hết lá lươn
Cau hết nửa vườn, cha với mẹ nào hay
Dầu mà cha mẹ có hay
Nhứt đánh nhì đày, hai lẽ mà thôi
Gươm vàng để đó em ôi
Chết thì chịu chết, lìa đôi anh không lìa
-o-
Anh về đô thị hôm nao
Gió lay cây choại, lệ trào mi em
-o-
Anh về em chẳng dám đưa
Hai hàng nước mắt như mưa tháng mười
-o-
Anh về làm rể ăn cơm với cá
Em về làm dâu ăn rau má với rạm đồng
-o-
Anh với em mà tựa vai kề
Nay dù em có lạc Sở sang Tề
Thì em cũng nên gởi thơ về một lá đặng cho anh hay
-o-
Áo anh đứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
-o-
Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn không ngủ, mất tiền thêm lo
-o-
Ăn sao cho được mà mời
Thương sao cho được vợ người mà thương
-o-
Ăn cây sung ngồi gốc cây sung
Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm
-o-
Ăn tàn ăn mạt, ăn nát cửa nhà
Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi
-o-
Ăn trái nhớ kẻ trồng cây
Uống nước nhớ người đào giếng
-o-
Ầu ơ... Anh về bán đất cây da
Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
-o-
Ầu ơ... Bồng bống bông bông
Lớn lên con phải cố học hành
Học là học đạo làm người
Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê
-o-
Ầu ơ... Cháu ơi cháu ngủ cho lâu
Mẹ cháu đi cấy đồng sâu chưa về
Chừng về bắt được con cá trê
Tròng cổ mang về bà cháu mình ăn
-o-
Ầu ơ... Chim quyên lẻ bạn, than thở một mình
Bây giờ mình lẻ bạn (ơ) một mình, mình thở than
-o-
Ầu ơ... Em tôi khát sữa bú tay
Ai cho bú thép ngày rày mang ơn
-o-
Ầu ơ... Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
-o-
Ầu ơ... Má ơi đừng đánh con đau
Để con hát bội làm đào má coi
-o-
Ầu ơ... Mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con bắt cá hái rau mẹ dùng
Bắt cá, cá lội trên đàng
Hái rau rau héo, hỏi sao mẹ dùng hả con?...
-o-
Ầu ơ... Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ
Sao anh không học đặng nhờ tấm thân?
-o-
Ầu ơ... Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Liệu bề đát được thì đương
Đừng gầy rồi bỏ thói thường cười chê
-o-
Ầu ơ... Ví dầu cá bống đánh đu
Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu
-o-
Ầu ơ... Ví dầu cá lóc nấu canh
Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm
-o-
Ầu ơ... Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Bậu ra bậu lấy ông câu
Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu
Kho tiêu kho ớt kho hành
Kho ba lượng thịt để dành mẹ ăn
-o-
Ầu ơ... Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng
Chiến
tranh Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
|
Chiến tranh Việt Nam là một bài viết về một chủ
đề nhạy cảm, và thường xuyên gây ra bút chiến.
Nếu bạn dự định thêm vào các sửa chữa lớn (thêm vào hơn một từ, không tính việc thêm dẫn chứng và sửa lỗi chính tả), xin hãy đọc các thảo luận đã có và viết vào thảo luận nội dung bạn muốn đưa vào, đồng thời bàn thảo để có được sự đồng thuận từ cộng đồng trước khi đưa chúng vào bài. Xin không viết trực tiếp vào bài bỏ qua việc thảo luận trước. Nếu bạn không chú ý cảnh báo này và liên tục sửa bất chấp cộng đồng, sửa đổi của bạn sẽ bị xóa và cộng đồng có thể cảnh cáo hoặc yêu cầu một bảo quản viên khóa tài khoản của bạn. |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Tên gọi
Tại Việt Nam, sách báo còn dùng tên Kháng
chiến chống Mỹ cứu nước để chỉ cuộc chiến tranh này,[9] cũng là để phân biệt với các cuộc chiến
tranh khác đã xảy ra ở Việt Nam khi chống Pháp, chống Nhật, chống Mông Cổ, chống Trung Quốc. Một số người[10] cảm thấy tên Kháng chiến chống Mỹ
không trung lập do cuộc chiến còn phản ánh yếu tố của một cuộc nội chiến;[10] một số khác cho rằng tên Chiến tranh
Việt Nam thể hiện cách nhìn của người phương Tây hơn là của người sống tại
Việt Nam.[10] Tên gọi của cuộc chiến này vẫn còn đang
là một vấn đề tranh cãi. Tuy nhiên hiện nay các học giả trong và ngoài Việt Nam
đang dần dần chấp nhận tên "Chiến tranh Việt Nam" vì tính chất quốc
tế của nó.[10]Cuộc chiến này chính thức kết thúc với sự kiện 30 tháng 4, 1975, khi Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa đầu hàng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, sau đó, quản lý miền Nam cho đến khi đất nước thống nhất. Nhà nước thống nhất với quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời vào năm 1976.
Bản chất của Chiến tranh Việt Nam
Bản chất của Chiến tranh Việt Nam
rất phức tạp và đa diện tùy theo lập trường của các bên và hiện nay đang còn
được tranh luận nhưng có thể rút ra một số đặc điểm sau:- Đối với các nhà lãnh đạo của Mỹ[11] và Việt Nam Cộng hòa[12][13] thì đây là cuộc chiến tranh giữa hai
hệ tư tưởng: chủ nghĩa cộng
sản và chủ nghĩa tư bản,
để ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản (Xem Thuyết Domino),
chính phủ Mỹ đã đứng ra cáng đáng chi phí của cả cuộc chiến,[14][15][16] có giai đoạn quân đội Mỹ đã trực
tiếp chiến đấu trên chiến trường thay cho quân đội Việt Nam Cộng hòa.[17][18][19][20]
- Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa và Mặt
trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam thì đây là cuộc chiến tranh
nhằm thực hiện các mục tiêu giành độc lập, thống nhất hoàn toàn cho đất
nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Họ nhìn nhận cuộc chiến này là một cuộc
chiến chống ngoại xâm, chống lại chủ nghĩa thực dân mới mà Mỹ áp đặt tại
miền Nam Việt Nam.[21][22][23]
- Đối với đa số người Việt ở cả miền Bắc và
miền Nam, sau 2000 năm chiến đấu chống các lực lượng ngoại xâm, người Mỹ
đơn giản là sự hiện diện mới nhất của ngoại bang trên đất nước Việt Nam.[24][25][26] Họ đã góp nên sức mạnh cho phong
trào dân tộc mãnh liệt do Hồ Chí Minh
lãnh đạo.[27] Phong trào này, do Đảng Lao Động
Việt Nam, với uy tín trong nhân dân đạt được từ việc đã tổ chức Mặt trận Việt Minh giành độc lập cho đất nước
và kiên trì chiến đấu chống sự trở lại của chế độ thực dân Pháp, và tổ
chức do đảng này thành lập là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đi tiên
phong, đã đạt được sự ủng hộ rộng rãi của đa số nhân dân.[28][29][30][31][32] Trong khi đó, phía Việt Nam Cộng hòa
ngày càng phụ thuộc vào Mỹ và đã không duy trì được vai trò độc lập của họ
trong con mắt của người dân (nhất là sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm
bị sát hại) – đặc biệt là khi đa số các nhân vật lãnh đạo của họ là
những người trong chính phủ Trần Trọng Kim,
hình thành dưới chế độ bảo hộ của phát xít
Nhật, hay đã từng làm việc cho Pháp.[33] Tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng
hòa và các đơn vị địa phương quân cũng do Pháp thành lập, sau đó được Mỹ
vá lại bằng cách tổ chức kiểu Mỹ.[34] Cuộc chiến này, do đó, mang tính dân
tộc rất cao:[35][25][36][28] sự độc lập và thống nhất của đất
nước đã trở thành yếu tố quyết định giúp những người Cộng sản thắng lợi
chứ không phải là nhờ vào hệ tư tưởng hay ưu thế quân sự của họ. Đại đa số
người dân miền Nam không quan tâm về các hệ tư tưởng chính trị. Họ chỉ muốn
được yên ổn để làm ăn.[37]
- Về quan điểm của người dân Hoa Kỳ, có hai
chiều hướng chính. Một phía tin vào chính phủ và ủng hộ cuộc chiến chống
Cộng của quân đội Hoa Kỳ. Phía kia cho rằng đây là cuộc chiến tranh xâm
lược,[38] chiếm đóng lên miền Nam Việt Nam để
điều khiển và kiểm soát thị trường kinh tế, nhân lực, sức lao động và tài
nguyên ở vùng Đông Nam Á,[39] còn chính sách chống Cộng sản của
chính phủ Mỹ theo Jonathan Neale chỉ là để phục vụ cho quyền lợi của những
tập đoàn tư bản Mỹ.[40]
- Trên cục diện quốc tế đây là cuộc "chiến
tranh nóng" trong lòng Chiến tranh Lạnh
đang diễn ra quyết liệt lúc đó trên thế giới.[41] Cả Liên Xô và Trung Quốc mặc dù có
những xung đột sâu sắc với nhau vẫn cùng viện trợ tối đa cho Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa chống lại Mỹ.
Viện trợ nước ngoài trong
Chiến tranh Việt Nam
Bài chi tiết: Viện trợ nước ngoài
Chiến tranh Việt Nam là một trong
những cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại, trong khi Hoa Kỳ viện trợ ồ ạt cho Việt Nam Cộng hòa
thì Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa cũng nhận được sự giúp đỡ to lớn từ phía Trung Quốc, Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa
khác. Viện trợ nước ngoài có vai trò và tác động to lớn đến quy mô, cường độ và
hình thái chiến tranh Việt Nam.|
Giai đoạn 1955-1975
|
||
|
Súng bộ binh
|
1.900.000
|
3.608.863
|
|
1.200
|
458
|
|
|
600
|
Không có số liệu
|
|
|
2.074
|
2.210
|
|
|
Tên lửa SA 75M
|
Không có trang bị
|
23
|
|
Pháo các loại
|
1.532
|
8.438
|
|
Xe cơ giới các
loại
|
56.000
|
16.116
|
|
Máy thông tin
|
50.000 (vô tuyến)
70.000 (hữu tuyến) |
Không có trang bị
|
|
Bệ phóng tên lửa
|
Không có trang bị
|
1.357
|
Diễn biến theo thời gian
|
Loạt bài
Chiến tranh Việt |
|
Giai đoạn 1954–1959
|
|
Giai đoạn 1960–1965
|
|
Giai đoạn 1965–1968
|
|
Chiến dịch:
Sự kiện Vịnh Bắc Bộ Mũi Tên Xuyên –Sấm Rền |
|
Chiến dịch:
Các chiến dịch Tìm-Diệt Phượng Hoàng –Tết Mậu Thân, 1968 |
|
Giai đoạn 1968–1972
|
|
Chiến
dịch:
Lam Sơn 719 – Chiến cục năm 1972 – Hè 1972 –Linebacker –Linebacker II |
|
Giai đoạn 1973–1975
|
|
Chiến
dịch:
Xuân 1975 Phước Long |
|
Hậu quả chiến tranh
|
Phó tổng thống
Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm và Đại sứ Hoa Kỳ tại
Sài Gòn Nolting
Sự phân đoạn như sau cốt chỉ để
tiện tham chiếu cho các diễn biến chính trên chiến trường. Trong báo chí và các
diễn đàn về Chiến tranh Việt Nam còn rất nhiều cách phân đoạn khác nhau tuỳ
theo trọng điểm phân tích.
Giai
đoạn 1954–1959
Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hẳn ý chí tiếp tục chiến đấu
giữ thuộc địa Đông Dương.[54]. Hiệp định Genève,
theo sự dàn xếp của các cường quốc, tạm thời chia Việt Nam ra thành hai khu vực
cho hai phe quân sự đối địch. Miền Bắc dành cho các lực lượng của Quân đội Nhân
dân Việt Nam, miền Nam dành cho tất cả các lực lượng thuộc khối Liên
hiệp Pháp. Vĩ tuyến 17 được xem là ranh giới, và một khu phi quân sự
tạm thời được lập dọc theo hai bên bờ sông Bến Hải
thuộc tỉnh Quảng Trị. Quân đội
hai bên phải rút về khu vực được quy định trong vòng 300 ngày. Trong thời gian
chuyển tiếp đó, người dân hai miền được quyền lựa chọn nơi sinh sống là khu vực
mà mình muốn và sẽ được hỗ trợ trong việc di chuyển. Tình trạng chia cắt này
chỉ là tạm thời cho đến khi cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt
Nam sẽ được tổ chức vào năm 1956. Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị công nhận chủ
quyền, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Lào và Việt Nam, đồng thời ghi nhận bản tuyên bố của chính
phủ Pháp về việc sẵn sàng rút quân đội Pháp khỏi lãnh thổ các nước này theo yêu
cầu và thỏa thuận với chính quyền sở tại. Tuyên bố này còn nói rằng các chính
quyền tại hai khu vực quân sự tại Việt Nam không được cho phép các hành động trả
thù đối với những người đã từng cộng tác với phía bên kia cùng gia đình họ[55].Kết quả Hiệp định: Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng vừa giành được thắng lợi quan trọng trên chiến trường, tập kết về miền Bắc. Lực lượng Quốc gia Việt Nam, trong đó có những người mong muốn độc lập cho Việt Nam nhưng bác bỏ lý luận đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của những người Cộng sản, theo quân đội Pháp tập kết về miền Nam. Quân đội Pháp dần dần rút khỏi miền Nam và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam. Chính quyền này từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do với lý do mà Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa ra là: không thể có bầu cử tự do với những người cộng sản[56]. Cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không bao giờ được tổ chức.
Không công nhận kết quả Hiệp định Genève và thấy trước kết quả sẽ thiên về những người Cộng sản nếu tổng tuyển cử được thi hành[57], Mỹ bắt đầu các hoạt động tại Việt Nam, chuẩn bị cho sự can thiệp sâu rộng hơn. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do Edward Lansdale, người của CIA và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, chỉ huy đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến để kêu gọi và vận động dân chúng miền Bắc di cư vào Nam[58]; chọn và gửi người Việt tới các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương để huấn luyện; huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối"[59].
Trong khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do và ra sức củng cố quyền lực, đàn áp khốc liệt những người cộng sản còn lại ở miền Nam bằng những chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng", miền Bắc vẫn chuẩn bị cho tổng tuyển cử và cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình[60]. Hà Nội tìm kiếm hỗ trợ quốc tế, kêu gọi các đồng chủ tịch hội nghị Genève, nhắc nhở Pháp về trách nhiệm đối với hiệp định. Tháng 7 năm 1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, Hà Nội yêu cầu các đồng chủ tịch hội nghị Genève tổ chức một cuộc hội nghị mới, yêu cầu này lại được lặp lại vào tháng 8. Các yêu cầu đàm phán với chính phủ Ngô Đình Diệm tiếp tục được gửi vào tháng 6 và tháng 7 năm 1957, tháng 3 và tháng 12 năm 1958, tháng 7 năm 1959, và tháng 7 năm 1960, nhưng đều bị từ chối. Trong khi tiến trình yêu cầu và từ chối đàm phán vẫn tiếp diễn, miền Bắc còn cố tái lập quan hệ thương mại với miền Nam[61], để giúp "nhân dân hai vùng trao đổi kinh tế, văn hóa và xã hội, nhằm tạo thuận lợi cho việc khôi phục cuộc sống bình thường của người dân." Nhưng cũng như vấn đề bầu cử, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thậm chí còn từ chối cả việc thảo luận.
Về quân sự, nhìn chung, trong giai đoạn 1954-1959 quân đội Việt Nam Cộng hòa giữ ưu thế trên chiến trường miền Nam. Nhưng đến cuối năm 1959 tình hình an ninh quân sự của miền Nam đã có những bất ổn, lực lượng Cộng sản ở miền Nam đã phát động chiến tranh du kích khắp nơi. Tình hình chính trị trở nên xấu đi vì các đường lối của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Tháng 9 năm 1960, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ủng hộ các hoạt động đấu tranh vũ trang và chính trị của những người Cộng sản miền Nam[62]. Đến thời điểm này, sự căng thẳng của lực lượng Cộng sản miền Nam đã lên đến mức mà nếu chính phủ Hà Nội không ủng hộ thì họ có thể mất ảnh hưởng của mình đối với các sự kiện sẽ xảy ra ở phía Nam vĩ tuyến 17. Năm 1960 trở thành một năm có biến động lớn, mở ra một giai đoạn mới của Chiến tranh Việt Nam.
Miền Bắc
Bài chi tiết: Miền
Bắc Việt Nam 1954–1959
Tại miền Bắc, những người Cộng
sản ngay lập tức bắt tay vào việc tổ chức đất nước theo mô hình xã hội chủ
nghĩa như ở các nước Liên Xô, Trung Quốc. Các chiến dịch cải cách ruộng đất,
hợp
tác hóa nông nghiệp, cải
tạo tư bản tư doanh đã san bằng các thành phần xã hội, xóa bỏ
các giai cấp địa chủ và tư bản, không cho phép các chính kiến đối lập với Đảng
Cộng sản. Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hóa cao độ, các quyền tự do chính trị
và các tổ chức bị hạn chế đến mức chỉ còn là hình thức trong một "nhà
nước-đảng". Xã hội nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc sống quân sự hóa toàn
diện khi "mỗi người dân đều là một chiến sĩ".Quân đội Nhân dân Việt Nam được tổ chức lại, nhất là về mặt chính trị để bảo đảm trung thành tuyệt đối với Đảng. Việc hiện đại hóa quân đội được tiến hành nhưng chậm và không đồng bộ, nhiều sư đoàn bộ binh được thành lập thêm nhưng vẫn mang tính bộ binh đơn thuần, hoả lực thiếu, yếu và chắp vá. Quân đội chưa có các quân binh chủng kỹ thuật cao như không quân, radar...; hải quân, tăng thiết giáp còn đang trong quá trình sơ khai; phương tiện vận tải, thông tin liên lạc còn yếu kém. Điều này là do tình hình kinh tế kém phát triển của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời sự hạn chế nguồn viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc. Nhưng chính vào giai đoạn này miền Bắc đã bí mật cho tiến hành phát triển tuyến đường tiếp vận chiến lược: Đường Trường Sơn – còn được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh. Đây sẽ là một tuyến vận chuyển chiến lược đảm bảo nhu cầu chiến tranh sẽ được mở rộng tại miền Nam sau này. Mặc dù vào lúc đó, tuyến đường này vẫn chỉ là các lối mòn trong rừng cho giao liên và các toán cán bộ vào Nam.
Nhìn chung, các nỗ lực tranh đấu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào thời kỳ này là đấu tranh chính trị và ngoại giao để đòi tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève, mà nếu nó xảy ra có lẽ các lãnh tụ cộng sản sẽ có ưu thế. Miền Bắc ở giai đoạn này đang tích luỹ nhưng chưa đủ khả năng để tiến hành chiến tranh tại miền Nam.
Miền Nam
Bài chi tiết: Miền
Nam Việt Nam 1954–1959
Ở miền Nam, với sự trợ giúp tích
cực của Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm –
được bổ nhiệm làm thủ tướng
và trở thành tổng thống sau cuộc trưng cầu ý dân ngày 23 tháng 10 năm 1955 – đã nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, xã
hội. Chính phủ Hoa Kỳ đã viện trợ lớn cho Việt Nam Cộng hòa và đã đạt được một
số thành quả quan trọng: kinh tế phục hồi và phát triển nhanh, tái định cư, đời
sống của dân chúng khá sung túc... Với ảnh hưởng tuyệt đối của mình, Hoa Kỳ đòi
hỏi chính phủ Việt Nam Cộng hòa phải xây dựng một lãnh thổ phi cộng sản, độc
lập, tự do theo tiêu chuẩn Mỹ và sẵn sàng đương đầu với miền Bắc.Chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm nhanh chóng thanh lọc bộ máy cầm quyền, đưa những người trung thành với ông vào các vị trí quan trọng trước kia vẫn dành cho người Pháp. Nhà nước Việt Nam Cộng hòa, lúc đó mang biểu hiện của hình thức tập quyền, chính trị của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào các đặc tính cá nhân của Tổng thống và gia đình ông. Quân đội Việt Nam Cộng hòa được cấp tốc trang bị và huấn luyện với sự giúp đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa, vào thời điểm đó, về trang bị, trình độ huấn luyện được xem là đứng đầu khu vực Đông Nam Á, vượt trội hơn Quân đội Nhân dân Việt Nam - đang là đối thủ tiềm tàng ở miền Bắc.
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, liên gia phòng vệ, dồn dân lập ấp chiến lược... một cách quyết liệt[63] không tính đến các đặc điểm tâm lý và quyền lợi của dân chúng cũng như hoàn cảnh lịch sử Việt Nam. Điều này đã làm biến dạng mô hình xã hội dân chủ tự do, suy giảm niềm tin của dân chúng vào chính thể của Tổng thống Ngô Đình Diệm và đẩy những người kháng chiến cũ vào rừng lập chiến khu.
Về mặt tôn giáo, chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm được lực lượng Công giáo ủng hộ mạnh ở thành thị và bộc lộ nhiều tính thiên vị Công giáo kể cả trong cơ cấu bộ máy chính quyền. Mặc dù vậy, phần lớn người Việt ở miền Nam vẫn giữ truyền thống theo đạo Phật. Mâu thuẫn vì tôn giáo sau này cũng trở thành một trong những động lực khởi phát cuộc đảo chính của Quân lực Việt Nam Cộng hòa chống lại Tổng thống Diệm vào tháng 11 năm 1963.
Lực
lượng cộng sản ở miền Nam
Bài chi tiết: Miền
Nam Việt Nam 1954–1959
Hệ thống những người Cộng sản ở
miền Nam Việt Nam là bộ phận cấu thành của Cộng sản Việt Nam, nhưng mang một số
đặc điểm riêng do ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội, văn hóa. Trong giai đoạn này,
tổ chức Cộng sản ở miền Nam là Trung ương Cục
miền Nam, đã có các đối sách hợp lý, gây khó khăn cho chính phủ của
Tổng thống Diệm. Từ chỗ bị truy lùng ráo riết mà chỉ trong hai năm họ không
những hồi phục về tổ chức mà còn phát triển thế chủ động tấn công cả về chính
trị và về quân sự. Về chính trị, họ đã làm chính quyền lao đao bằng các cuộc
đấu tranh chính trị rầm rộ ở nông thôn và thành thị do họ chỉ đạo từ xa[64]. Về quân sự, họ đã phát triển chiến tranh
du kích và đã đánh được những trận lớn như trận Tua Hai (Tây Ninh) vào căn cứ cấp trung đoàn của
quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Chiến thuật này đã phát huy tác dụng làm hạn chế được sức mạnh quân sự của Quân lực Việt
Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, do thiếu thốn về cơ sở vật chất và hệ thống
nhân lực, lực lượng Cộng sản ở miền Nam tồn tại, chung sống một cách "hòa
bình", đan xen với bộ máy chính quyền địa phương của chính phủ Việt Nam
Cộng hòa.
Giai
đoạn 1960–1965
Giai đoạn 1960–1965 là giai đoạn
miền Bắc công khai hậu thuẫn Cộng sản miền Nam và bắt đầu đem quân thâm nhập
miền Nam[65]. Các lực lượng Cộng sản miền Nam thành
lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng
Miền Nam. Trong khi đó, Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng hòa tiến hành
chiến lược Chiến tranh đặc
biệt. Tuy nhiên, quân Giải phóng vẫn thắng thế trên chiến trường,
đánh những chiến dịch lớn sát các đô thị. Tổng thống Ngô Đình Diệm không kiểm
soát nổi khủng hoảng chính trị và bị Hội
đồng Quân nhân Cách mạng đảo chính. (Một số tài liệu của cả hai
bên cho rằng chính Mỹ đã bật đèn xanh[66] [67] cho cuộc đảo chính này). Việt Nam Cộng
hòa sau đó đã rơi vào cuộc khủng hoảng lãnh đạo.
Bối cảnh
quốc tế
Thập niên 1960
là thời kỳ nở rộ của khối XHCN và đã xuất hiện mầm mống chia rẽ giữa hai cường
quốc hàng đầu trong khối là Liên Xô và Trung quốc về các vấn đề tư tưởng, đường
lối cách mạng[68]. Nhất là từ khi Liên Xô rút hết các cố
vấn khỏi Trung Quốc sau năm 1960.Tại Liên Xô và Đông Âu hình thức kinh tế tập trung và kế hoạch hóa đang phát huy các mặt tích cực của nó. Liên Xô tập trung mọi nguồn lực, bất chấp hậu quả sau này, cố đạt cho bằng được những chỉ tiêu kinh tế, chính trị được cho là ưu thế của hệ thống xã hội chủ nghĩa để tranh đua với Hoa Kỳ vai trò lãnh đạo thế giới. Việc phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người (Sputnik 1) và đưa người đầu tiên vào vũ trụ (Yuri Gagarin) là biểu tượng của một siêu cường đang thắng thế. Liên Xô và Hoa Kỳ - hai kẻ thù tư tưởng - sẵn sàng đối chọi nhau ở mọi vấn đề quốc tế. Và Việt Nam là nơi mà hai phe muốn phô trương sức mạnh của mình.
Liên Xô tuy đã có vũ khí nguyên tử từ năm 1949[69] nhưng ưu thế quân sự của Hoa Kỳ vẫn áp đảo. Do đó Liên Xô vẫn e ngại sự quá căng thẳng với Hoa Kỳ và chỉ viện trợ cho miền Bắc ở mức đủ để xây dựng một "chủ nghĩa xã hội" cho đến thời điểm này.
Trong thập niên 1960 quan điểm của Liên Xô về chiến tranh Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Từ quan điểm cùng chung sống hòa bình của Nikita Khrushchev trong chính trị quốc tế, nghĩa là phía Liên Xô muốn có sự chung sống giữa hai nhà nước Việt Nam và thống nhất thông qua trưng cầu dân ý với sự giúp đỡ quân sự hạn chế đến ủng hộ đấu tranh vũ trang làm cách mạng bằng bạo lực của Leonid Brezhnev với viện trợ quân sự to lớn cho miền Bắc Việt Nam. Khi Khrushchev bị hạ bệ, Leonid Brezhnev lên thay, ban đầu chính sách của Liên Xô vẫn giữ nguyên nhưng đến đầu năm 1965, tân thủ tướng Liên Xô, Kosygin, thăm Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng nhằm hai mục đích hàn gắn quan hệ Xô – Trung và ngăn chặn hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam.
Trong chuyến thăm Hà Nội, tháp tùng Kosygin có các chuyên viên tên lửa. Và ngày 10 tháng 2 năm 1965, Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp ước hỗ trợ kinh tế và quân sự Việt - Xô. Từ đây sự giúp đỡ quân sự của Liên Xô cho miền Bắc ngày càng tăng và đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.
Đến thời điểm này cách tiếp cận của họ đã khác: viện trợ cho miền Bắc Việt Nam nhiều hơn[70]. Đây cũng là thời kỳ Quân đội Nhân dân Việt Nam được hiện đại hóa mạnh mẽ, trang bị lại với vũ khí mới kể cả các vũ khí hạng nặng, các binh chủng kỹ thuật ra đời để đáp ứng chiến tranh hiện đại: không quân, radar, tên lửa phòng không... Quân đội miền Bắc liên tiếp tiến hành các cuộc tập trận lớn với giả định đánh quân đổ bộ đường không và chống xe tăng Mỹ.
Đầu năm 1961, Tổng thống Kennedy gửi 400 cố vấn quân sự đến miền Nam Việt Nam. Điều này Trung Quốc lo ngại, Ban lãnh đạo Trung Quốc có hai quan điểm khác nhau. Mao Trạch Đông ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang của Việt Nam còn Chu Ân Lai thì muốn sử dụng biện pháp ngoại giao, chính trị cùng với chiến thuật du kích và hoạt động bí mật ở miền Nam.
Thập niên này đang có tranh cãi trong phe xã hội chủ nghĩa giữa những người thuộc "phe xét lại" (Nikita Sergeyevich Khrushchyov và Liên Xô) và những người "Marxist-Leninist chân chính" (Mao Trạch Đông và Trung Quốc) và các biện pháp cách mạng ở thế giới thứ ba bằng hòa bình hay bằng bạo lực cách mạng[71][72][73].
Trung Quốc, lúc đó đang cạnh tranh vai trò lãnh đạo phe Xã hội chủ nghĩa với Liên Xô[73], cũng không muốn vai trò của mình kém hơn đối thủ cùng tư tưởng. Họ viện trợ cho miền Bắc, trong giai đoạn này, còn nhiều hơn Liên Xô. Họ khuyến khích miền Bắc chiến đấu giải phóng miền Nam mà không sợ quân đội Mỹ tham chiến. Cả Liên Xô và Trung Quốc đảm bảo nếu Hoa Kỳ đánh ra miền Bắc thì họ sẽ can thiệp bảo vệ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn. Trung Quốc đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt Nam nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tính từ 1956 đến 1963, Trung Quốc đã chuyển lượng vũ khí cho miền Bắc ở số lượng trị giá khoảng 320 triệu nhân dân tệ[70]. Tháng 12-1964, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc thăm Hà Nội và ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác quân sự Việt-Trung. Lúc đầu Trung Quốc hứa gửi phi công sang miền Bắc Việt Nam, nhưng sau đó họ rút lại vì lo ngại ưu thế hơn hẳn của không quân Mỹ. Sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc, bắt đầu từ tháng 6 năm 1965. Mao Trạch Đông sử dụng cuộc chiến Việt Nam khơi gợi tinh thần chống đế quốc trong nhân dân Trung Quốc để chống lại những người theo "phe xét lại" trong bộ máy và để bảo đảm vị trí của ông trong lịch sử. Đây là mục đích chính của chiến dịch "Ủng hộ Việt Nam và chống Mỹ" tại Trung Quốc.
Hoa Kỳ cũng quyết tâm không bỏ cuộc tại Nam Việt Nam. Năm 1964, Mỹ bắt đầu chuyển hướng sự chú ý từ miền Nam hướng ra miền Bắc và tuyên bố sẽ không chấp nhận việc tăng chuyển quân và vũ khí từ miền Bắc vào Nam[74]. Hoa Kỳ tăng cường can thiệp vào chiến tranh Việt Nam và tháng 2 năm 1965 không quân Mỹ oanh kích miền Bắc. Để đối phó với sự gia tăng chiến tranh của Mặt trận Giải phóng miền Nam, Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng hòa tiến hành chiến tranh đặc biệt và tăng cường viện trợ kinh tế cũng như quân sự.
Chiến
trường miền Nam
Bài chi tiết: Miền
Nam Việt Nam 1960–1965, Sự kiện Phật Đản,
1963, và Đảo
chính 1963 tại Nam Việt Nam
Thanh niên sinh
viên Sài Gòn biểu tình chống Mỹ-Ngụy.
Từ năm 1960, với chủ trương "Giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội" của chính phủ Việt Nam Dân
Chủ Cộng hòa[75], quân Giải phóng ở chiến trường miền Nam
phát động liên tiếp các đợt tiến công quy mô kết hợp đấu tranh chính trị với
đấu tranh vũ trang mà cao trào là phong trào Đồng
khởi. Phong trào này gây cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa thời Tổng
Thống Ngô Đình Diệm
lúng túng trong việc lập lại trật tự, dẫn đến một phần đáng kể của nông thôn
miền Nam đã thành vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát (cuối năm 1960). Theo
số liệu được ghi trong Sách giáo khoa lịch sử hiện hành[cần dẫn nguồn]
thì cuối năm 1960, quân Giải phóng Miền nam đã kiểm soát 600/1298 xã ở Nam Bộ,
904/3829 thôn ở đồng bằng ven biển Trung bộ và 320/5721 thôn ở Tây Nguyên.Nhân đà thắng lợi, ngày 20 tháng 12 năm 1960 những người cộng sản miền Nam thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam gồm nhiều đại diện các thành phần tôn giáo, tầng lớp xã hội, dân tộc khác nhau do những người cộng sản lãnh đạo. Quân Giải phóng Miền Nam cũng được thành lập ngay sau đó, ngày 15 tháng 2 năm 1961, theo nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Quân uỷ Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam.[76]
Đứng trước tình hình trên, tướng Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam để hành động gấp giúp Việt Nam Cộng hòa đẩy lùi phía cộng sản. Kế hoạch Staley-Taylor (hay chiến tranh đặc biệt) với việc sử dụng chủ yếu quân lực Việt Nam Cộng hòa đã được trang bị bằng vũ khí tối tân do Mỹ cung cấp và thực hiện các kế hoạch quân sự do cố vấn Mỹ tư vấn. Nhà nước Hoa Kỳ cũng tăng thêm nguồn viện trợ kinh tế cho chính phủ Ngô Đình Diệm nhằm tăng quân số và tiêu dùng cho các chi phí quân sự. Với khả năng cơ động cao, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giành được những thắng lợi nhất định. Đồng thời, chính phủ Việt Nam Cộng hòa thắt chặt chính sách Ấp chiến lược nhằm cách ly quân Giải phóng với dân chúng.
Thiết giáp xa
M-113 của Quân lực Việt
Nam Cộng hòa trên chiến trường
Về phía Mặt trận Dân tộc Giải
phóng, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam trong thời điểm này được xem là không
còn đủ để đáp ứng tình hình do chiến tranh mở rộng về quy mô và số lượng. Vì
vậy, binh sĩ của Quân đội Nhân
dân Việt Nam ở miền Bắc đã hành quân vào Nam theo đường mòn Trường
Sơn để tăng cường cho Quân Giải phóng. Tuy nhiên, trong thời kỳ
1960-1965 các đơn vị từ miền Bắc vào chủ yếu đứng chân vòng ngoài tại tuyến
đường Trường Sơn, Tây Nguyên để xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ chiến sự
sau này.Sau gần hai năm đối phó với chiến tranh đặc biệt, Quân Giải phóng miền Nam đã đúc kết kinh nghiệm đối phó với chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Điều này đã tạo ra thắng lợi cho họ trong trận Ấp Bắc (ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Tiền Giang). Trong các năm 1963 và 1964 Quân Giải phóng miền Nam thắng thế tiến công trên toàn chiến trường và đến tháng 12 năm 1964 họ tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa[77]. Quân đội Việt Nam Cộng hòa trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ gần các thành phố lớn.
Ngày 8 tháng 5 năm 1963 xảy ra sự kiện Phật đản tại Huế, bắt nguồn từ sự kỳ thị tôn giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm. Sự kiện này đã làm chấn động trên toàn thế giới, cũng như đã tạo ra phong trào phản đối sự lộng hành gia định trị của chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ngày 1 tháng 11 năm 1963 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự chỉ huy của tướng Dương Văn Minh và sự im lặng không phản đối của Hoa Kỳ, đã làm đảo chính lật đổ, giết chết hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và xử bắn ông Ngô Đình Cẩn.
Ngay sau đó chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rơi vào khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng và chỉ ổn định lại khi Hội đồng lãnh đạo Quốc gia, đứng đầu bởi hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, lên chấp chính (tháng 6 năm 1965). Tháng 6 năm 1965, trước các thất bại liên tiếp trên chiến trường và tình hình chính trị rối loạn tại Việt Nam Cộng hòa, chính phủ Hoa Kỳ quyết định huỷ bỏ kế hoạch Staley-Taylor và đưa quân đội Hoa Kỳ sang trực tiếp tham chiến để giữ miền Nam khỏi rơi vào tay lực lượng cộng sản[78].
Giữa giai đoạn khủng hoảng chính trị đó, giới lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa vẫn có tham vọng Bắc tiến để thống nhất Việt Nam. Ngày 14 tháng 7 năm 1964, người đứng đầu chính phủ là tướng Nguyễn Khánh công khai tuyên bố Bắc tiến. Hai ngày sau, tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng khẳng định Không lực Việt Nam Cộng hòa đã sẵn sàng. [79]Nhưng kế hoạch này đã bị Washington bác bỏ và nó không bao giờ trở thành sự thực.
Giai
đoạn 1965–1968
Một khu căn cứ
của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sau một trận tập kích
Đây là giai đoạn ác liệt nhất của
Chiến tranh Việt Nam mà người Mỹ gọi là Chiến tranh cục bộ.
Ngay tên gọi "chiến tranh cục bộ" đã cho thấy tính phức tạp rất dễ
bùng nổ của tình hình mà Tổng thống Lyndon B. Johnson phải giải quyết. Một mặt
quân đội Hoa Kỳ phải can thiệp vũ trang nhằm quét sạch lực lượng Quân Giải
phóng; mặt khác, họ phải kiềm chế chiến tranh trong phạm vi Việt Nam, không để
nó lan ra ngoài vòng kiểm soát, đụng chạm đến khối Cộng sản để có thể dẫn đến
một cuộc chiến tranh như Chiến tranh Triều
Tiên. Chính phủ Hoa Kỳ đã thành công trong việc kiềm chế, nhưng việc
đó làm họ không thành công trong mục tiêu bình định lực lượng Quân Giải phóng.
Các đồng minh lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Liên Xô, Trung Quốc cũng
quyết tâm theo đuổi giúp cho nước này chiến đấu chống Hoa Kỳ. Họ thấy đây là cơ
hội rất tốt để làm Hoa Kỳ sa lầy tại Việt Nam. Trong lúc đó, các cường quốc này
vươn lên và tranh chấp ngôi vị lãnh đạo thế giới.Việc các lực lượng quốc gia hoan nghênh đưa quân đội Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam đã phần nào đẩy lui lực lượng cộng sản và mở ra một hy vọng chiến thắng nhưng, đồng thời, từ đó chính phủ Việt Nam Cộng hòa luôn phải tham khảo ý kiến của đồng minh Hoa Kỳ trước khi ra quyết định. Họ hiếm khi đưa ra chính sách lớn, họ còn thậm chí không được tham khảo ý kiến về quyết định của Mỹ năm 1965 đưa một lực lượng lớn quân vào tham chiến trên bộ.[80]
Sự leo
thang chiến tranh của Hoa Kỳ
Một lính Mỹ trên
trực thăng
Chính vì những tế nhị chính trị
như vậy nên sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã diễn ra theo cách leo thang dần.
Đầu tiên họ cho rằng không cần tham chiến vẫn có thể giải quyết chiến tranh nếu
ngăn chặn được nguồn tiếp tế của miền Bắc. Hoa Kỳ ra sức ép nếu miền Bắc không
chấm dứt tiếp tế cho Quân Giải phóng miền Nam thì sẽ phải đối mặt với việc bị
ném bom. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bất chấp sức ép của Hoa Kỳ và tiếp
tục tiếp tế vào miền Nam. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ
vào tháng 8 năm 1964 dẫn tới việc Quốc hội Hoa kỳ
đã uỷ nhiệm cho chính phủ Hoa Kỳ tiến hành mọi hoạt động chiến tranh nếu thấy
cần thiết mà không cần có sự phê chuẩn của Quốc hội. Ngay sau đó, Hoa Kỳ bắt
đầu các cuộc ném bom miền Bắc. Để duy trì việc ném bom, Hoa Kỳ phải đưa máy bay
và lính không quân vào các sân bay tại miền Nam, lập các căn cứ tại đó. Điều
này dẫn đến việc Quân Giải phóng tiến công các sân bay.Để bảo vệ các căn cứ trong sân bay, Hoa Kỳ cần gửi thêm thủy quân lục chiến. Sau đó lại xuất hiện vấn đề phải phòng thủ từ xa và, cuối cùng, là phải tìm-diệt đối phương sâu trong các căn cứ của họ. Thế là quân Mỹ đã dần dần trực tiếp đánh thay cho Việt Nam Cộng hòa, và quân đội của quốc gia này dần dần chỉ còn là lực lượng giữ an ninh tại các vùng họ kiểm soát.
Miền Bắc
và chiến tranh không quân
Tốp máy bay F105
Của Không quân Mỹ đang oanh tạc Bắc Việt Nam 1966
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964 miền Bắc đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ[81] do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Hòn Gai). Tại Bãi Cháy, bộ đội cao xạ phòng không đã chủ động đánh trước khi máy bay Mỹ oanh kích. Hai máy bay Mỹ loại A-4 Skyhawk bị bắn rơi. Phi công Mỹ Everett Alvarez nhảy dù xuống biển đã bị dân chài bắt sống, trở thành người tù binh Mỹ đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam[82]. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Để đề phòng các phản ứng của quốc tế, Không quân Mỹ chỉ chừa lại nội thành hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng mà thôi. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường xá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, là cuống họng tiếp tế vào Nam, và tại khu vực Vĩnh Linh giáp sông Bến Hải - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thoả thuận với chính phủ Trung Quốc đưa một bộ phận quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam đóng ở những vị trí quan trọng về chiến lược như tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên và dọc đường Quốc lộ 1 đến phía nam Hà Nội, vừa để giúp Việt Nam làm đường vừa để thị uy với Hoa Kỳ đừng mang quân đổ bộ ra Bắc vì sẽ phải đánh nhau với quân Trung Quốc. Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6 năm 1965 đến tháng 3 năm 1973 là gần 320.000 người. Tại mỗi thời điểm, đông nhất có khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lửa đất đối không, pháo phòng không, các đơn vị công binh làm đường, dò mìn, và vận tải[8].
Việc ném bom miền Bắc khó có thể đánh sụp được tiềm lực chiến tranh của miền Bắc vì xã hội miền Bắc là xã hội nông nghiệp lạc hậu không có nhiều các mục tiêu công nghiệp lớn. Mọi nguồn lực chiến tranh được các nước Xã hội Chủ nghĩa bên ngoài cung cấp. Ở điều kiện miền Bắc Việt Nam, chiến tranh không quân sẽ chỉ có tác dụng lớn nếu như nó đánh gẫy được ý chí của nhân dân miền Bắc.
Cuộc sống của người dân miền Bắc đã khó khăn lại càng căng thẳng, ngay cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng phải tản cư về nông thôn để tránh bom, nhu yếu phẩm cho dân thành thị được bán theo chế độ tem phiếu rất nghiêm ngặt. Ở nông thôn, ngoài số thực phẩm tối thiểu được để lại để nuôi sống gia đình, tất cả các nông phẩm phải đưa hết vào kho cho nhu cầu quốc phòng. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa lao động sản xuất vừa phải tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ đã huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong sinh hoạt tập trung như bộ đội vào tuyến lửa tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, và vào tuyến đường Trường Sơn, sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm đường và đảm bảo giao thông. Số này bị thương vong vì bom đạn và bệnh tật rất nhiều.
Để bảo đảm dân số và tôn trọng tín ngưỡng người Việt là để lại con cháu nối dõi tông đường, người ta cố gắng tạo điều kiện cho thanh niên lấy vợ sớm trước khi nhập ngũ. Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến. Tất cả mọi người đều phải tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng Lao động Việt Nam như Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Hội phụ lão, Hội phụ nữ, Hội vợ chiến sĩ, Hội mẹ chiến sĩ... các hội này thực hiện các chỉ thị của Đảng để giữ vững tinh thần và niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là các tin chiến thắng lẫy lừng.
Người ta cố gắng xây dựng và nhân rộng các điển hình của chủ nghĩa anh hùng cách mạng bằng cách đưa những người có chiến công thật đi tuyên truyền, kể chuyện chiến thắng, chưa có chiến công thì hư cấu thành chiến công. Ngành nào, địa phương nào cũng phải có chiến công anh hùng cách mạng. Nói chung, tinh thần của người dân miền Bắc vẫn cao, họ vẫn có thể chấp nhận hy sinh cao hơn nữa để giành được thắng lợi cuối cùng.
Lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể đua tranh với Không quân và Hải quân Hoa Kỳ nên họ chỉ dồn sức bảo vệ các mục tiêu thật quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố lớn, các điểm giao thông quan trọng và các nơi máy bay địch hay qua lại nhiều. Những nơi còn lại được phân cho các lực lượng dân quân tự vệ trang bị pháo và súng máy phòng không đảm trách. Đến năm 1965, lực lượng phòng không của miền Bắc có trang bị khá hiện đại do Liên Xô cung cấp, gồm nhiều trung đoàn pháo phòng không các tầm cỡ điều khiển bằng radar. Hệ thống radar cảnh giới và dẫn đường cho không quân. Hệ thống tên lửa phòng không và không quân tiêm kích. Các lực lượng phòng không không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu khá sáng tạo, vô hiệu hóa được các thủ thuật chiến tranh điện tử và chống trả quyết liệt với Không quân và Hải quân Hoa Kỳ.
Các
chiến dịch tìm-diệt
Ngay sau khi quân đội Hoa Kỳ đổ
bộ vào miền Nam Việt Nam tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt
Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền Nam bị đẩy lui vào thế thủ, bị không quân và
kỵ binh bay của Mỹ truy đuổi. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống
trải để lui về miền núi và nơi có rừng. Ở đồng bằng họ chỉ để lại các đơn vị
nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân
đánh du kích.
Nông dân bị tình
nghi là cộng sản
Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận đánh rất ác liệt tại vùng thung lũng
sông Ia Drang,
gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kon Tum. Một trung đoàn chính quy Quân Qiải
phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 Kỵ binh bay
của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là hai trận đánh liên
tiếp, trận Xray và trận Albany,
diễn ra trong bốn ngày đêm. Mỗi bên thắng một trận, hai bên đều bị thương vong
nặng, và tuy cùng tuyên bố thắng lợi, đều biết được thực lực đối phương là đáng
gờm. Sau trận này phía quân Giải phóng nhận thức được ưu thế áp đảo quân sự của
quân Mỹ. Phía Mỹ có hoả lực cực mạnh và tổ chức chiến đấu hoàn hảo. Đặc biệt có
yểm trợ không quân rất hiệu quả mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B52, bom napal và trực thăng vũ trang, nên từ đó
Quân Qiải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị cấp đại đội,
tiểu đoàn; họ tránh đánh những trận dàn quân xung phong mà chỉ áp dụng chiến
thuật đánh tập kích. Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không
giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại nghỉ ngơi hoặc sơ hở thì họ tập kích
hoặc phục kích, đánh xong nhanh chóng rời chiến trường. Một khi xung phong thì
luôn áp sát đánh gần để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân.
Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi
quen thuộc của đối phương, nơi mà vũ khí của họ không phát huy hết tác dụng.
Quân Mỹ "tìm-diệt" nhưng
chẳng thấy địch đâu tuy bất cứ lúc nào họ cũng có thể xuất hiện.Trong hai năm 1966 và 1967 chiến sự giữa hai bên diễn ra chủ yếu tại miền Đông Nam Bộ, nơi có các căn cứ và kho tàng lớn của quân Giải phóng. Bộ chỉ huy chiến trường của Mỹ đã tung ra ba chiến dịch lớn để đánh vào các căn cứ này, đó là các chiến dịch:
- Chiến dịch
Cedar Falls – đánh vào khu Tam
giác sắt Củ Chi, nơi có hệ thống địa đạo mà lực lượng cộng
sản dùng làm bàn đạp thâm nhập Sài Gòn;
- Chiến dịch
Attleboro – đánh vào chiến
khu Dương Minh Châu; và
- Chiến dịch
Junction City – đánh vào chiến khu C
của Quân Qiải phóng miền Nam.
Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Sự kiện
Tết Mậu Thân
Bài chi tiết: Sự kiện Tết Mậu
Thân
Vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968,
quân Giải phóng tung ra trận Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam, đánh vào
hầu hết các thành phố, thị xã và các căn cứ quân sự của đối phương. Đây là một
sự kiện gây chấn động trên thế giới và gây nhiều bàn cãi nhất về Chiến tranh
Việt Nam, sự kiện có một vai trò to lớn trong cuộc chiến tranh này.Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh[83] không cho phép quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam hoạch định một trận đánh gây tiếng vang lớn ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" – Lê Duẩn) nhằm buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
Trong thực tế, vào tháng 1-1968, tình báo của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã thu thập được các tài liệu nói về cuộc tổng tấn công sắp tới của quân Giải phóng. Tuy vậy, họ cho rằng đây chỉ là tài liệu do đối phương tung ra để làm nghi binh và không đáng tin cậy. William Westmoreland, tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam, nhận định Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ tấn công vào mùa khô với các trọng điểm là Quảng Bình, Quảng Trị và Khe Sanh. [84] Hầu hết người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ hoàn toàn bất ngờ và bị động trước cuộc tấn công này.
Cuộc tiến công đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 Tết Mậu Thân, tức ngày 30 tháng 1 năm 1968, trên khắp các đô thị miền Nam. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất trong thành phố[85]: Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã gây bất ngờ lớn[85] cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.
- Bất ngờ về mục tiêu và thời điểm tiến công:
10 ngày trước, hai sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có hành động nghi
binh bằng cách tấn công căn cứ của lính thuỷ đánh bộ Mỹ tại Khe Sanh làm bộ chỉ huy Mỹ tập trung
tâm trí và binh lực lên miền núi Quảng Trị để
tránh một trận Điện Biên Phủ
mới[86]. Việc lực lượng quân Giải phóng tiến
công vào các đô thị không hề được lường trước làm cho Quân lực Việt Nam
Cộng hòa và Mỹ hoàn toàn bất ngờ khi một bộ phận sĩ quan và binh lính (kể
cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu)
đang về quê nghỉ Tết Nguyên đán.
- Bất ngờ về quy mô tiến công: cuộc tiến công
làm sửng sốt mọi người khi mà đồng loạt tại tất cả các đô thị cùng diễn ra
các trận đánh quyết liệt trong gần một tháng (chỉ riêng đợt 1) và điều bất
ngờ này cho thấy 3 năm tìm-diệt của quân đội Hoa Kỳ chỉ đạt được hiệu quả
thấp.
Nguyễn Ngọc Loan
(tướng cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa) bắn chết tù binh cộng sản ngay trên đường
phố trong Sự kiện Tết Mậu Thân
- Bất ngờ về độ sát thương bạo liệt không khoan
nhượng: từng dãy phố bị ném bom napal, quân hai bên có lúc, có nơi
đánh nhau như điên dại, tràn lan mức độ giết chóc và trả thù, hành quyết
ngay trên phố (Xem Sự kiện Nguyễn
Ngọc Loan)... Những điều này được truyền thông nhanh chóng,
gây ấn tượng rất lớn lên tâm lý dư luận thế giới[87].
- Về mặt tác chiến trong số các đô thị, quân
Giải phóng thành công nhất tại cố đô Huế (Xem Trận Mậu Thân
tại Huế). Họ chiếm giữ thành phố lâu tới 25 ngày sau khi
đánh nhau ác liệt giành giật từng khu nhà đoạn phố với thủy quân lục chiến
Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Một đặc điểm nữa[85] của việc lập kế hoạch tiến công Mậu Thân 1968 là các cấp chỉ huy chiến đấu của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch được đâu là mục tiêu chính trị thực chất của cuộc tiến công và đâu là mục tiêu được phổ biến rộng rãi trong quân để cổ vũ khí thế chiến đấu. Mục tiêu thực chất là đánh lớn gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, đàm phán. Còn mục tiêu chính trị được phổ biến tuyên truyền trong cán bộ binh sĩ để nâng cao sĩ khí là đó là trận cuối cùng "đánh dứt điểm" đối phương. Các cán bộ chiến trường khi lập kế hoạch tác chiến cũng tin tưởng vào quyết tâm đánh dứt điểm của cấp trên nên họ lập kế hoạch và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh cuối cùng. Điều này làm cho các thiệt hại của Quân Giải phóng càng thêm nặng nề.
Điều tai hại nữa cho Quân Giải phóng là họ đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình[85][88]. Khi thấy chưa đạt được mục tiêu trong đợt tấn công đầu tiên họ đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5, đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại của mình càng to lớn hơn nữa.
Sau Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đẩy ra xa và suy yếu trầm trọng[83]: Các đơn vị quân sự chịu thương vong lớn, các lực lượng chính trị bị bộc lộ và bị triệt phá gần hết, thương vong cao hơn hẳn những năm trước. Thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng là cho giải tán các sư đoàn, trung đoàn chính quy quay trở về lối đánh du kích. Họ không còn khả năng đánh lớn tại miền Nam và phải rút lui về các chiến khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải 3–4 năm sau lực lượng của họ mới hồi phục lại được. Trong các năm sau Mậu Thân, từ 1969 đến 1971, là thời gian Quân lực Việt Nam Cộng hòa chủ động tiến công lùng đánh Quân Giải phóng, triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ở nông thôn và thành thị. Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã thất bại.
Mặt khác, Quân Giải phóng cũng có lý do để cho rằng Mậu Thân 1968 là thắng lợi mang tính chiến lược trong chiến tranh của họ[83]: bắt buộc Mỹ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Lực lượng quân Giải phóng suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn Mỹ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại được.
Cuộc tổng tiến công đã làm dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao đã làm căng thẳng trong xã hội Mỹ, phúc lợi giảm sút, gây nhiều hệ luỵ xấu cho xã hội... mà vẫn không dứt điểm được quân đối phương, và trong tương lai chiến tranh không biết đến bao giờ kết thúc[83]. Điều này đưa đến kết luận là Mỹ không thể thắng được trong cuộc chiến này. Các chính trị gia trong Quốc hội Mỹ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi huỷ bỏ uỷ quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng[89].
Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và sự tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước[89]. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác, các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên TV đánh vào lương tâm công chúng (Xem Thảm sát Mỹ Lai, Saigon Execution). Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi chiến tranh là bẩn thỉu.
Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo[89]. Các cố vấn hàng đầu của tổng thống và ngay Tổng thống Johnson thoái chí đi đến kết luận không thể tăng quân thêm nữa theo yêu cầu của giới quân sự mà phải xuống thang, đàm phán.
Kết quả ngày 31 tháng 3 năm 1968 Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến trường, và từ chối tranh cử nhiệm kỳ tới. Tổng thống Richard M. Nixon, thắng cử vì hứa chấm dứt chiến tranh, tuyên bố sẽ dần rút quân về nước và đàm phán với Quân Giải phóng. Vấn đề của Mỹ bây giờ không còn là chiến thắng cuộc chiến nữa mà là rút ra như thế nào.
Tất cả những điều trên tạo cơ sở cho Quân Giải phóng thấy rằng họ đã đạt được mục tiêu đề ra của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho dù với giá hy sinh cực kỳ to lớn.
Hậu quả
quân sự và chính trị
Cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968
đã dẫn đến các kết quả chính trị và quân sự cho cả thời kỳ 1969–1971[89][83].- Về quân sự: Quân Giải phóng chịu nhiều thương vong, mất
thế đứng chân tại nhiều nơi trên chiến trường miền Nam, họ phải rút về các
vùng nông thôn, rừng núi hoặc sang ẩn tránh tại các vùng bên kia biên giới
tại Lào và Campuchia. Chiến trường miền Nam trở
nên yên tĩnh hơn. Quân lực
Việt Nam Cộng hòa có thời giờ xây dựng và tiến hành các chiến
dịch bình định nông thôn đặc biệt là chiến dịch
Phượng hoàng để đánh bật gốc rễ các cán bộ cộng sản nằm vùng
trong nông thôn miền Nam.
- Về chính trị: Vai trò của đấu tranh chính trị của những
người cộng sản trong chiến tranh từ nay suy giảm đi nhiều vì các cơ sở
chính trị của họ bị phá và với sự ác liệt không khoan nhượng của chiến
tranh ở giai đoạn này không cho phép dân chúng tụ tập trên chiến trường để
yêu sách chính trị. Từ đó trở đi sức mạnh vũ trang mang tính quyết định.
Giai
đoạn 1968–1972
Biên giới Việt
Nam – Campuchia 1970
Xe tăng tiến vào
thị trấn Snoul, biên giới Việt Nam-Campuchia năm 1970
Đây là giai đoạn "sau Mậu
Thân" hay giai đoạn "Việt Nam hóa
chiến tranh", giai đoạn Hoa Kỳ rút dần khỏi chiến trường Việt
Nam. Để đồng minh của họ đứng vững, Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng hòa xây dựng quân
đội theo hình mẫu của quân lực Hoa Kỳ, với các loại vũ khí chiến tranh tối tân
mà Hoa Kỳ để lại và với cơ sở hậu cần chiến tranh mà quân đội Hoa Kỳ đã sử
dụng. Hoa Kỳ sẽ yểm trợ về không lực tối đa cho quân đội Cộng hòa trong các
giao tranh với Quân Giải phóng.Một sự kiện quan trọng đã xảy ra trong thời kỳ này và có hậu quả to lớn cho Đông Dương sau này là việc Hoa Kỳ giúp Lon Nol làm đảo chính tháng 3 năm 1970 ở Campuchia, lật đổ hoàng thân Norodom Sihanouk và phát động chiến tranh chống cộng sản tại Campuchia.
- Xem: Chiến dịch
Campuchia
Ngày 30 tháng 4 năm 1970, Quân lực Việt Nam Cộng hòa kết hợp cùng quân đội Hoa Kỳ tiến vào khu căn cứ của Quân Giải phóng tại Campuchia nhưng đã bị sa lầy. Ngày 30 tháng 6 năm 1970, chính phủ Mỹ phải ra lệnh rút quân Mỹ về. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cùng quân của chính phủ Lon Nol không thể tự đương đầu với Quân Giải phóng. Các sư đoàn 5, 7, 9 của Quân Giải phóng không những đánh đuổi quân Việt Nam Cộng hòa mà còn giúp Khmer Đỏ đánh quân chính phủ Lon Nol, giành các tỉnh Đông và Đông Bắc Campuchia để nối thông với Lào.
Việt Nam
hóa chiến tranh
Tiến trình Việt Nam hóa chiến
tranh đã diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau Mậu Thân
được trang bị theo kiểu Mỹ đã tỏ ra tự tin hơn và đã làm chủ trên chiến trường
miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn vì Quân Giải
phóng trong thời kỳ này chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh
lớn. Cũng có thể họ yên lặng mà không làm gì có thể trì hoãn việc rút quân của
Mỹ.Sự yên tĩnh trên chiến trường miền Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên tĩnh trên chiến trường, phía Việt Nam Cộng hòa đổ công tiến hành bình định nông thôn. Từ đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa và Mỹ đã hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc chống lại cơ cấu đấu tranh chính trị của những người cộng sản ở địa bàn nông thôn. Một chương trình lớn tái thiết nông thôn được thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Hoa Kỳ. Trong thời kỳ này, với sự giúp đỡ của CIA, Chiến dịch Phượng hoàng đã được triển khai nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các nỗ lực của Phượng hoàng chủ yếu diễn ra bằng các biện pháp khủng bố, ám sát, thủ tiêu. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen được CIA huấn luyện và được phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe ngóng thu thập tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân cộng sản, tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn nghi là Cộng sản thì thủ tiêu. Các phần tử cộng sản hoặc thân cộng sản nếu không tiện bắt thì ám sát. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn người. Các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên được đảm bảo an toàn hơn rõ rệt cho phía chính phủ.
Trong thời kỳ này, viện trợ của Hoa Kỳ dồi dào nên đời sống của dân chúng trở nên tốt hơn, nhất là dân trong các thành phố lớn và nó làm cho đời sống dân nông thôn đổ về thành phố tị nạn dễ thở hơn. Lúc này, tình trạng tham nhũng trong chính quyền và quân đội lên cao. Trong quân đội rất phổ biến kiểu "lính ma": có quân số để sĩ quan lĩnh lương nhưng không có quân chiến đấu. Những điều này gây ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Một vấn đề lớn nữa của Việt Nam hóa chiến tranh là khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhất nhất theo các tiêu chuẩn Mỹ thì họ cũng quen kiểu đánh nhau tốn tiền như Mỹ, và sức chiến đấu của quân đội phụ thuộc lớn vào viện trợ của Mỹ[90]. Viện trợ kém thì ảnh hưởng rõ rệt đến sức chiến đấu của quân đội, điều này góp phần giải thích tại sao quân đội này mau chóng sụp đổ trong năm cuối cùng của cuộc chiến.
Chiến
dịch Lam Sơn 719
Bài chi tiết: Chiến dịch Lam
Sơn 719
Tình hình miền Nam tương đối yên
lặng trong các năm 1969–1971. Quân Giải phóng tích cực dự trữ lương thực, đạn
dược tại các căn cứ ở Lào, Campuchia và các vùng rừng núi mà Quân lực Việt Nam
Cộng hòa chưa với tới được. Năm 1970, sau khi quân đội Mỹ
và Việt Nam Cộng hòa đã thất bại trong việc đánh phá căn cứ của phe cộng sản
tại Campuchia, tiếp tế từ miền Bắc đã nối thông từ Lào đến Đông Bắc Campuchia
và đổ vào các khu căn cứ Tây Ninh. Do đó, nếu
không cắt được tiếp tế cho Quân Giải phóng ở Campuchia thì có thể cắt tiếp tế
từ Lào. Và tháng 1 năm 1971, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, dưới sự
yểm trợ bằng không quân của Hoa Kỳ, tiến hành chiến dịch Lam
Sơn 719: đánh từ Quảng Trị cắt ngang sang Hạ Lào nhằm phá huỷ hệ thống kho tàng của
Quân Giải phóng. Cuộc hành quân này ngay từ đầu đã mang tính phiêu lưu phô
trương chính trị và đã thất bại vì những lý do sau- Cuộc hành quân không bảo đảm tính bất ngờ.
- Các căn cứ của Quân Giải phóng là những nơi
họ đã lâu năm thông thuộc địa bàn và có bố phòng rất kỹ lưỡng. Ngay quân
đội Hoa Kỳ với sức mạnh tổng lực như thế đã không thể làm gì nổi. Trong
thời kỳ tìm-diệt các chiến dịch Atteleboro và Junction City đều đã thất
bại, do đó đưa quân vào đó là sa vào thế trận đã bày sẵn. Hơn nữa vùng Hạ
Lào là nơi tập trung rất nhiều binh lực hiện đại của Quân Giải phóng, còn
mạnh hơn rất nhiều các khu căn cứ khác mà quân Nam Việt Nam chưa có đủ sức
mạnh, kinh nghiệm và bản lĩnh để đương đầu.
- Khi hoạch định kế hoạch người ta chú ý nhiều
đến khía cạnh phô trương sức mạnh của quân đội Nam Việt Nam đánh được vào
"đất thánh Cộng sản" chứ ý nghĩa quân sự thì ít. ("Chỉ cốt
sao đến được Sê Pôn rồi về" – Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.)
Chính vì để phô trương nên ban đầu khi gặp khó khăn rất lớn đã không chấm
dứt chiến dịch mà cố gắng tiến nhọc nhằn đến Sê Pôn rồi phải cố sức mở
đường máu với thiệt hại lớn mới về thoát dù chỉ là vài chục km cách biên
giới.
- Sự phối hợp của quân Mỹ và quân Nam Việt Nam
không tốt. Không quân Mỹ chỉ ném bom B52 dọn đường theo yêu cầu, còn nhiệm
vụ phối hợp hoả lực chiến thuật cho bộ binh tác chiến gần như không làm
được[cần dẫn nguồn].
- Lực lượng máy bay trực thăng vào khu vực đậm
đặc phòng không hiện đại đã chờ sẵn của đường mòn Hồ Chí Minh đã bị thiệt
hại quá nặng không thể hoàn thành nhiệm vụ.
Sau các cuộc hành quân bất thành của Quân lực Việt Nam Cộng hòa vào Campuchia và Hạ Lào, đến đầu năm 1972, Quân Giải phóng đã hồi phục sau Mậu Thân và lại tung ra một đợt tổng tiến công lớn nữa.
Chiến
dịch mùa hè 1972 của miền Bắc
Bài chi tiết: Chiến
cục năm 1972 tại Việt Nam và Chiến dịch Xuân
hè 1972
Xe tăng T-54 của
QĐNDVN
Tháng 3 năm 1972 lại xảy ra một nỗ lực nữa của phe cộng sản nhằm làm
thoái chí Hoa Kỳ, buộc họ rút hẳn ra khỏi cuộc chiến. Đây là đòn đánh để kết
hợp với nỗ lực ngoại giao. Quân Giải phóng đã tung ra một cuộc tổng tiến
công và nổi dậy chiến lược mùa xuân năm 1972 (Tuy rằng tên và kế
hoạch như vậy nhưng yếu tố "nổi dậy" gần như không có. Điều đó cho
thấy tác dụng của các nỗ lực bình định của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa trong
thời gian 1969-1971 đã có những hiệu quả nhất định.)Đây là cuộc tiến công chiến lược gồm các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam Cộng hòa trên ba hướng chiến lược quan trọng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ.
Tại Bắc Tây Nguyên, sau các thắng lợi ban đầu của Quân Giải phóng tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh, chiến sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum.
Tại Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại Lộc Ninh, Quân Giải phóng tiến công theo đường 13 để đánh chiếm thị xã An Lộc trong trận An Lộc, dùng xe tăng và pháo binh dữ dội đánh dàn trận xung phong. Quân lực Việt Nam Cộng hòa quyết tâm cố thủ thị xã và đưa quân lên ứng cứu. Không quân Mỹ dùng B-52 đánh phá ác liệt các khu vực tập kết của Quân Giải phóng và gây thiệt hại lớn. Chiến trận xảy ra rất dữ dội tại thị xã, thương vong của hai bên và của dân chúng rất cao. Nhưng, cuối cùng, Quân Giải phóng không thể lấy nổi thị xã phải rút đi và sau 3 tháng chiến sự đi vào ổn định. Lần đầu tiên tại vùng Đông Nam Bộ, xe tăng T-54 và PT-76 của Liên Xô chế tạo xuất hiện, cho thấy hệ thống tiếp tế của Quân Giải phóng đã hoàn chỉnh vì đã có thể đưa được xe tăng đến tận chiến trường phía nam.
Trong suốt quá trình diễn ra cuộc chiến tranh, chưa bao giờ miền Bắc và các đồng minh miền Nam của họ lại phát động một cuộc tiến công ồ ạt dưới sự hỗ trợ của các lực lượng được trang bị tốt đến như vậy, cuộc tiến công này mạnh hơn bất cứ những gì mà Việt Nam Cộng hòa có thể tập trung lại được vào mùa xuân năm 1972.[91]
Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị. Tại đây có tập đoàn phòng ngự dầy đặc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi tuyến đầu đối chọi với miền Bắc. Cuộc tiến công của Quân Giải phóng tại Quảng Trị đã thành công to lớn, quân phòng ngự tại đây hoảng loạn, thậm chí Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đầu hàng không chiến đấu. Chỉ sau một tháng và qua 2 đợt tấn công, Quân Giải phóng đã chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.
Đến lúc đó, việc giữ vững vùng chiếm được và tái chiếm vùng đã mất tại Quảng Trị đã thành vấn đề chính trị thể hiện ý chí và bản lĩnh của cả hai bên và là thế mạnh để đàm phán tại Hội nghị Paris. Hoa Kỳ để tỏ rõ ý chí của mình bằng cách từ ngày 16 tháng 4 năm 1972 ném bom trở lại miền Bắc với cường độ rất ác liệt: dùng máy bay B-52 rải thảm bom xuống Hải Phòng, đem hải quân thả thuỷ lôi phong toả các hải cảng tại miền Bắc Việt Nam.
Tại chiến trường Quảng Trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đem hết quân dự bị ra quyết tái chiếm thị xã Quảng Trị với sự hỗ trợ tối đa bằng máy bay B-52 của Hoa Kỳ. Quân Giải phóng quyết tâm giữ vững khu vực thành cổ Quảng Trị của thị xã. Chiến sự cực kỳ ác liệt, thương vong hai bên rất lớn để tranh chấp một mẩu đất rất nhỏ không dân đã bị tàn phá hoàn toàn. Sau gần 3 tháng đánh nhau quyết liệt, Quân Giải phóng không giữ nổi và Quân lực Việt Nam Cộng hòa chiếm được thành cổ và thị xã Quảng Trị. Nhưng, dù có hỗ trợ của không quân Mỹ, việc tái chiếm thị xã Đông Hà và các vùng đã mất khác là không thể làm được. Đến cuối năm 1972, chiến trường đi đến bình ổn vì hai bên đã kiệt sức không thể phát triển chiến sự được nữa.
Cuộc tấn công năm 1972 của Bắc Việt Nam đã không nhận được sự ủng hộ từ 2 đồng minh chủ chốt là Trung Quốc và Liên Xô trái với mong đợi của Hà Nội do 2 quốc gia này chỉ mong muốn kết thúc nhanh 1 thỏa ước hòa bình với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa tại Paris[92]. Mặc dù chiến dịch không đem đến lợi thế rõ rệt về quân sự nhưng đã làm xã hội Hoa Kỳ quá mệt mỏi. Dư luận Mỹ và thế giới thúc ép chính quyền phải đạt được một nền hòa bình bằng thương lượng theo đúng cam kết giải quyết chiến tranh trong nhiệm kỳ tổng thống của họ. Đến cuối năm 1972, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đạt được thoả hiệp cơ bản những ý chính của Hiệp định Paris, và đầu năm 1973, Hoa Kỳ rút hẳn khỏi cuộc chiến.
Vừa đánh
vừa đàm
Đọc bài chính:Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1972 và Hiệp định Paris
1973 để tham khảo về các nguồn dẫn chứng tương ứng.
Việc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc
Việt Nam là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm được ai bằng quân sự. Sau
Mậu Thân, các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam.
Việc thương lượng đã diễn ra rất phức tạp vì, một mặt, các bên chưa thật sự
thấy cần nhượng bộ và, mặt khác, Liên Xô và Trung Quốc muốn can thiệp vào đàm
phán – đặc biệt là Trung Quốc. Nước này không muốn Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa tự đàm phán mà muốn thông qua Trung Quốc giống như hiệp định Geneva
năm 1954. Nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cự
tuyệt dù bị áp lực bởi hai đồng minh.Hội đàm được chọn tại Paris trải từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973. Ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ; sau mở ra thành hội nghị bốn bên, thêm Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
(Để đi đàm phán có chính danh một chính phủ có tính tính pháp lý cao hơn, năm 1969 phía Cộng sản cho thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên cơ sở Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).
Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và điều đó đúng với Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ 1968 đến 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mở màn, tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được rồi kết thúc mà không đi vào thực chất. Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của tổng thống Hoa Kỳ, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thoả hiệp.
Đến giữa năm 1972, khi Bắc Việt đã đuối sức[cần dẫn nguồn] và Hoa Kỳ đã mệt mỏi bởi chiến tranh kéo dài và thực sự muốn đi đến kết thúc [93], thì đàm phán mới đi vào thực chất thoả hiệp.
- Lập trường ban đầu của Hoa Kỳ: quân đội Hoa
Kỳ rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc rút Quân đội Nhân dân Việt
Nam khỏi Nam Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong
giải pháp hòa bình.
- Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa: quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam có
quyền ở lại chiến trường miền Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu không được
tồn tại trong giải pháp hòa bình.
Sau khi văn kiện hiệp định đã được ký tắt, Henry Kissinger đi Sài Gòn để đệ trình cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu văn bản đã đạt được. Phía Việt Nam Cộng hòa phản đối dự thảo này và tuyên bố sẽ không ký kết hiệp định như dự thảo.
Phía Mỹ đứng về phía Việt Nam Cộng hòa và tuyên bố chưa thể ký được hiệp định, đòi thay đổi lại nội dung chính liên quan đến vấn đề cốt lõi: quy chế Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ sửa đổi của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đe dọa sẽ ném bom lại miền Bắc Việt Nam nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị.
Máy bay B-52 đang
ném bom rải thảm
Tháng 12 năm 1972, Hoa Kỳ cho máy
bay B52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12), đó là Chiến dịch
Linebacker II. Không khuất phục được Hà Nội, bị thiệt hại nặng nề
cho lực lượng không quân và nhất là bị dư luận quốc tế và trong nước phản đối
mạnh mẽ, chính phủ Hoa Kỳ buộc phải chấm dứt ném bom quay lại đàm phán và đồng
ý ký kết Hiệp định Paris theo phương án đã ký tắt, dù có một vài sửa đổi nhỏ có
tính kỹ thuật. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định nhưng vì
áp lực nếu không chấp nhận thì Hoa Kỳ sẽ đơn phương ký với Hà Nội và từ bỏ
trách nhiệm với Việt Nam Cộng hòa nên phải chấp nhận ký.
Phía Hoa Kỳ ký
kết hiệp định Paris
Hiệp định Paris được ký kết vào
ngày 27 tháng 1 năm 1973, được coi là một thắng lợi quan trọng của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Ngày 29 tháng 3 năm 1973 quân nhân Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi sự
can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam. Từ nay chỉ còn quân đội
Việt Nam Cộng hòa đơn độc chống lại Quân Giải phóng đang ngày càng mạnh.
Chiến
dịch Linebacker II
Bài chi tiết: Mặt trận đất đối không miền Bắc Việt Nam 1972 và Chiến dịch
Linebacker II
Trong chiến dịch này, Hoa Kỳ đem
lực lượng không quân chiến lược với máy bay B-52 ném bom rải
thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên trong 12 ngày đêm. Về lý do
quân sự, chính trị thì cuộc ném bom này không cần thiết và có hại vì khi đó Hoa
Kỳ đã quyết tâm rút khỏi chiến tranh. Hoa Kỳ biết rất rõ rằng chỉ bằng một cuộc
ném bom dù ác liệt đến đâu Hoa Kỳ không thể nào bắt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
nhượng bộ một vấn đề cốt lõi mà vì nó họ đã chiến đấu gần 20 năm. Nó chỉ làm dư
luận Mỹ và thế giới bất bình với chính phủ Hoa Kỳ. Đây chỉ là cách để thể hiện
trách nhiệm nghĩa vụ đối với đồng minh (không chỉ đối với Việt Nam Cộng hòa mà
còn cả các đồng minh khác nữa). Khi dự thảo hiệp định đã được ký tắt với Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã phản đối kịch liệt và
không chấp nhận, Hoa Kỳ quyết định dùng bước này để chứng tỏ họ đã cố gắng đến
mức cuối cùng cho quyền lợi của đồng minh rồi.Hoa Kỳ đã dùng một biện pháp rất cực đoan, tàn bạo mà các chuẩn mực chiến tranh thông thường không cho phép: dùng máy bay B52 rải thảm bom huỷ diệt vào một loạt các khu vực dân cư của các thành phố lớn để đánh vào ý chí của dân chúng và đã gây ra thương vong lớn cho dân cư. Ở Hà Nội, tại phố Khâm Thiên bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố và sát hại nhiều dân thường. Tại bệnh viện Bạch Mai, nhiều tòa nhà quan trọng đã bị phá hủy, cùng với các bệnh nhân và bác sĩ, y tá bên trong. Chiến dịch này đã phá hoại nặng nề nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng đã không làm thay đổi được lập trường của Hà Nội.
Về mặt quân sự, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp lực lượng phòng không của đối phương. Không lực Hoa Kỳ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để bịt mắt radar và tên lửa phòng không của đối phương. Để đáp lại, các lực lượng tên lửa phòng không của Bắc Việt Nam đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo và hợp lý, họ đã bắn các máy bay B52 theo xác suất và đã thành công vượt xa mức trông đợi. Cũng trong chiến dịch này, lần đầu pháo đài bay B-52 bị hạ bởi một máy bay tiêm kích, do Phạm Tuân điều khiển. Sách báo Việt Nam gọi chiến dịch này là Điện Biên Phủ trên không, như một cách nêu bật thắng lợi của lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.
Dưới áp lực của dư luận thế giới và trong nước, thất bại trong việc buộc Hà Nội nhượng bộ, Tổng thống Nixon ra lệnh chấm dứt ném bom vào ngày 30 tháng 12 năm 1972 và hội đàm lại để ký kết hiệp định. Hiệp định Paris có phương án cuối cùng về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt. Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Hiệp
định Paris
Bài chi tiết: Hiệp định Paris
1973
Hiệp định Paris
là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham
chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách
mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Theo các nội dung chính như sau:- Các quân đội nước ngoài phải rút khỏi Việt
Nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Quân Giải
phóng miền Nam đóng nguyên tại chỗ và ngừng bắn tại chỗ.
- Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai
quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh
sống đi lại tự do giữa hai vùng.
- Hiệp thương chính trị giữa các lực lượng
chính trị, thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc của miền Nam Việt Nam và
tiến tới thống nhất hai miền.
- Ngoài ra còn nhiều các điều khoản khác như
lập uỷ ban kiểm soát và giám sát và phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên,
điều khoản Hoa Kỳ đóng góp tài chính tái thiết sau chiến tranh, điều khoản
Hoa Kỳ gỡ mìn đã phong toả các hải cảng Bắc Việt Nam, điều khoản trao trả
tù binh...
Để trấn an Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nixon đã hứa riêng với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp Bắc Việt Nam phát động chiến tranh tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ sẽ phản ứng một cách thích hợp để bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng hòa. Lời hứa này về sau không có giá trị thực tiễn vì sau đó Quốc hội Hoa Kỳ đã ra nghị quyết không cho phép đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương mà không được phép của Quốc hội và quy định khuôn khổ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa một cách hữu hiệu được. Đối với người Mỹ, họ thực sự muốn đóng lại cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới.
Hoa Kỳ rút quân
theo Hiệp định Paris.
Nguồn: Sách Chính phủ Việt Nam 1945 – 1998 NXB Chính trị Quốc gia, tháng 7 năm 1999
Chính vì vậy trong hiệp định có
những điều khoản có vẻ là nhượng bộ của Bắc Việt Nam nhưng chẳng có ai có thể
kiểm chứng và cưỡng chế được; ví dụ điều khoản quy định quân đội Bắc Việt Nam
được quyền thay quân và trang bị vũ khí theo nguyên tắc một-đổi-một. Số quân
Bắc Việt trên chiến trường lúc đó, số quân của họ trên đường mòn Hồ Chí Minh,
số vũ khí họ mang vào và mang ra là những dữ liệu không thể kiểm chứng được.
Còn vũ khí Mỹ vào Việt Nam qua các cảng và cầu hàng không thì dễ dàng được quản
lý. Tương tự, điều khoản về uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế cũng chỉ là
hình thức vì quyền lực của uỷ ban này không có đủ để can thiệp gì vào các tiến
trình sự việc. Các điều khoản về quy chế chính trị như thành lập chính phủ hòa
hợp dân tộc tiến tới thống nhất cũng không có cơ chế thi hành mà chỉ là ý
tưởng.Nguồn: Sách Chính phủ Việt Nam 1945 – 1998 NXB Chính trị Quốc gia, tháng 7 năm 1999
Nói chung hiệp định này chỉ được thi hành tốt ở những điều khoản rút quân Mỹ (cùng các đồng minh khác) và trao trả tù binh Mỹ mà thôi. Hoa Kỳ thực sự muốn rút và miền Bắc sẵn sàng tạo điều kiện cho việc đó.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút hết vào cuối tháng 3 năm 1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuẩn bị cho việc đánh dứt điểm chính quyền Việt Nam Cộng hòa, còn Nam Việt Nam cố gắng xoay trở chống đỡ chẳng kể gì đến hiệp định. Vai trò của hiệp định Paris, trên thực tế, đến đây là đã hết.
Giai
đoạn 1973–1975
Bài chi tiết: Chiến dịch Mùa
Xuân 1975
Đây là giai đoạn kết thúc chiến
tranh vì với sự ra đi của Hoa Kỳ thì kết cục cho Chiến tranh Việt Nam đã rõ
ràng. Sau 2 năm quân Mỹ rút hết, quân Giải phóng tiến công trận đánh cuối cùng
giải quyết chiến tranh. Việt Nam Cộng hòa không thể tự bảo vệ, quân đội của họ
đã nhanh chóng bị đánh bại và đã đầu hàng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.Trong các năm từ 1973 đến tháng 2 năm 1975 là thời gian hai phía đối địch chuẩn bị vào các trận đánh nhau to sắp tới. Năm này chỉ được 1–2 tháng đầu là có các ảo tưởng hòa bình: quân sĩ hai bên tiếp xúc với nhau qua câu cửa miệng là "hòa bình rồi...". Sau đó là thời gian hai bên liên tục lên án nhau phá hoại hiệp định và đánh lấn chiếm vùng kiểm soát của nhau, nhưng ở quy mô nhỏ. Quân đội Việt Nam Cộng hòa không đủ sức để đánh lớn và quân Giải phóng cũng không có chủ trương đánh lớn vào lúc đó.
Thời kỳ này có một sự kiện bất ngờ với Việt Nam Cộng hòa và ngỡ ngàng cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là việc Trung Quốc tấn công chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974. Vào năm này, Quân lực Việt Nam Cộng hòa gặp khó khăn trong việc điều quân dự bị, cụ thể là rút tiểu đoàn Thủy quân lục chiến đang đóng ở Hoàng Sa về đất liền để chống lại lực lượng Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ và hạm đội 7 của họ cũng không giúp đỡ Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa nữa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công khai phản kháng lại các động thái của Trung Quốc, nhưng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc vào ngày 20/1/1974. Sau hải chiến Hoàng Sa 1974, Trung Quốc đã thay thế Việt Nam Cộng hòa thực hiện chủ quyền tại quần đảo này; nhưng Việt Nam Cộng hòa và nước Việt Nam thống nhất sau này vẫn tuyên bố chủ quyền tại đây. Sự việc cũng tác động lên quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với đồng minh Trung Quốc, và giữa Việt Nam Cộng hòa với đồng minh Hoa Kỳ: các đồng minh của họ đã không còn đáng tin cậy như trước.
Thời kỳ 1974–1975 trước trận Ban Mê Thuột có hai trận đánh lớn có vai trò đáng chú ý: trận Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam bắt đầu khoảng tháng 7 năm 1974 và trận Phước Long tháng 12 năm 1974. Đây là hai trận của giai đoạn này mà Quân giải phóng phát động với một mục tiêu duy nhất là thăm dò lực lượng đối phương.
Tháng 7 năm 1974, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đưa một sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Đúng theo tính toán của phía cộng sản, Quân lực Việt Nam Cộng hòa liền điều sư đoàn dù tổng trù bị chiến lược đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng; kết quả quân Cộng sản vẫn giữ vững Thượng Đức và Quân lực Việt Nam Cộng hòa bỏ cuộc. Sau trận đánh, các nhà lãnh đạo của Quân Giải phóng đã đi đến kết luận là sức chiến đấu, nhất là sức mạnh tấn công, của Quân lực Việt Nam Cộng hòa so với 1972 đã suy giảm đi nhiều khi không còn có yểm trợ của không quân Mỹ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng không đủ lực lượng dự bị cơ động để chiến đấu lâu dài: Một quận lỵ quan trọng ở quân khu 1 Việt Nam Cộng hòa mà cả quân đoàn và quân khu 1 không đủ lực lượng cơ động đến giải vây mà phải dùng đến sư đoàn dù là lực lượng mạnh nhất tổng dự bị chiến lược. Điều này là một luận cứ góp vào kế hoạch tác chiến cho chiến dịch năm 1975 đánh dứt điểm Việt Nam Cộng hòa.
Giữa tháng 12 năm 1974, tại mặt trận miền Đông Nam Bộ, quân Cộng sản phát động chiến dịch Phước Long tiến đánh và sau 3 tuần chiếm hoàn toàn tỉnh này. Tuy mất một tỉnh ngay tại đồng bằng Nam Bộ cách Sài Gòn chỉ khoảng 100 km nhưng Việt Nam Cộng hòa không có phản ứng thích đáng nào để khôi phục. Họ không còn quân dự bị cơ động để phản kích nữa. Và quan trọng nhất là Hoa Kỳ chỉ phản ứng ở mức không có dấu hiệu là sẽ can thiệp mạnh. Chiến dịch này đã củng cố tin tưởng của phía Cộng sản là Hoa Kỳ sẽ ít có khả năng can thiệp trở lại.
So sánh
lực lượng hai bên sau khi Hoa Kỳ rút quân
Trong giai đoạn 1973–1975, tuy
lượng viện trợ quân sự từ Liên Xô và Trung Quốc giảm rõ rệt[94], nhưng cán cân lực lượng vẫn dần nghiêng
về Quân Giải phóng . Họ được bổ sung quân số đầy đủ từ miền Bắc. Quân từ miền
Bắc lúc đó hành quân bằng cơ giới trên đường mòn Hồ Chí Minh cả ngày lẫn đêm,
đèn pha sáng trưng mà không sợ bị không lực Hoa Kỳ oanh tạc. Trong các năm này,
đường mòn Hồ Chí
Minh cũng đã được mở rộng hơn để đảm bảo cho việc cung cấp quy mô
lớn cho chiến trường. Các trang thiết bị đạn dược và lương thực cũng đã đủ số
trong các kho, từ kho của đơn vị chiến đấu đến kho hậu cứ và kho tại hậu phương
miền Bắc. Xăng dầu đã được bơm thẳng theo tuyến đường ống cung cấp từ miền Bắc
vào tận Bù Gia Mập tại miền Đông Nam Bộ và rất gần đến các kho đứng chân chiến
đấu. Đặc biệt ưu thế quan trọng nhất tạo nên áp đảo đối phương là tinh thần
chiến đấu. Binh sĩ của họ nhận thức được cơ hội thuận lợi chấm dứt chiến tranh
giành chiến thắng hoàn toàn nên khí thế lên rất cao và sẵn sàng xung trận.Quân đội Việt Nam Cộng hòa thì ngày càng gặp khó khăn, tuy phương tiện chiến tranh vẫn còn nhiều trong kho, nhưng họ bị hạn chế về kinh phí tài chính vì viện trợ của Hoa Kỳ đã bị cắt giảm nhiều, khó khăn trong việc trả lương binh lính và nhất là khó khăn trong việc tăng cường và bổ sung quân số. Tuy Quân lực Cộng hòa hơn hẳn đối phương về không quân, nhưng quân chủng này đòi hỏi rất nhiều tài chính khi hoạt động, viện trợ của Hoa Kỳ lúc đó không đủ nên không quân không phát huy được gì nhiều. Các khu dự trữ xăng dầu của Việt Nam Cộng hòa luôn là nơi bị đặc công Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đánh phá nên nhiều lúc vấn đề nhiên liệu cũng gay gắt. Nhưng điều khó khăn lớn nhất cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa là tinh thần chiến đấu của binh sĩ xuống thấp. Sau Hiệp định Paris, các sĩ quan và binh lính đã thấy tương lai mờ mịt cho họ, tâm trạng bi quan chán nản và tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng dẫn đến tình trạng đào ngũ, trốn lính rất nhiều, bổ sung không kịp.
Theo các số liệu thống kê về cán cân lực lượng trên chiến trường (quân số, trang bị hạng nặng) thì tương quan lực lượng nghiêng về Việt Nam Cộng hòa. Nhưng với những thuận lợi và khó khăn thực chất của hai bên, ưu thế trên chiến trường đã nghiêng hẳn sang phía Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Việc họ nhanh chóng đè bẹp quân đội Việt Nam Cộng hòa trong chiến dịch mùa xuân năm 1975 là phản ánh đúng cán cân lực lượng trên chiến trường.
Cuộc tấn
công cuối cùng
Cuộc tấn công cuối cùng của Quân
Giải Phóng Miền Nam diễn ra trong 55 ngày đêm bắt đầu từ ngày 5 tháng 3 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Tổng thống Dương Văn Minh
của Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện. Nó còn được gọi là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Cơ quan tham
mưu của Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa lập kế hoạch tiến công đã phân cuộc tiến công
này thành các chiến dịch nối tiếp nhau họ gọi là chiến dịch Tây
Nguyên, chiến dịch giải
phóng Huế-Đà Nẵng và, cuối cùng, chiến dịch Hồ Chí
Minh.- Chiến dịch
Tây Nguyên: với mục tiêu là chiếm Tây Nguyên mà trận mở đầu
then chốt là thị xã Ban Mê Thuột
tại Nam Tây Nguyên. Tại đây có hậu cứ của sư đoàn 23 của Quân lực
Việt Nam Cộng hoà. Quân đội
Nhân dân Việt Nam đã thành công trong việc làm cho đối phương
tin rằng mục tiêu tiến công sẽ ở Bắc Tây Nguyên ở hướng thị xã Kon Tum hoặc thị xã Pleiku. Ngày 10 tháng 3 quân Giải Phóng tiến công
Ban Mê Thuột. Sau hơn một ngày tiến công rất ác liệt, quân đồn trú đã
kháng cự rất quyết liệt nhưng với ưu thế áp đảo quân Giải Phóng đã đánh
chiếm được thị xã. Liên tiếp trong các ngày sau đó họ đã chủ động tiến
công quân phản kích, quân phản kích của Nam Viêt Nam vừa đổ xuống chưa kịp
đứng chân cũng đã bị đánh tiêu diệt. Mất Ban Mê Thuột và không có đủ lực
lượng cơ động dự bị khả dĩ có thể phản kích tái chiếm, lại cùng với việc
các lực lượng phòng thủ Bắc Tây Nguyên cũng đang bị uy hiếp nặng nề, Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu
đã ra lệnh bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ giải đồng
bằng ven biển miền trung. Đường rút lui sẽ là theo đường 14 từ Pleiku đi
xuống phía nam sau đó đi vào đường số 7 đã bị bỏ từ lâu không sử dụng, mục
tiêu là thoát xuống thị xã Tuy Hòa tỉnh Phú Yên. Đây là một thảm hoạ chết
người cho Quân lực
Việt Nam Cộng Hòa. Cuộc rút lui đã không bảo toàn được số quân
mà trái lại nó làm thành làn sóng hoảng loạn lan khắp các vùng lại còn làm
rệu rã hết tinh thần binh sĩ trên toàn quốc. Việc rút một số lượng quân
lớn như thế trong một thời gian chuẩn bị gấp gáp 2–3 hôm đã diễn ra trên
đoạn đường dài hàng trăm km không có kế hoạch, trong khi tinh thần binh sĩ
đã xuống rất thấp và, quan trọng hơn cả, binh sĩ mang gia đình và người
chạy nạn theo cùng. Tất cả những cái đó đã biến dòng người cùng xe cộ
khổng lồ ùn tắc thành một dòng náo loạn không thể chỉ huy và chiến đấu. Bị
đối phương chặn tại Cheo Reo - Phú Bổn đoàn quân này đã bị tan tác không
còn tập hợp lại được nữa. Tây Nguyên thất thủ vào tay quân giải phóng ,
hơn 12 vạn quân đồn trú bị tan rã. Toàn bộ sư đoàn 23 của Quân lực Việt
Nam Cộng hòa hơn 1 vạn quân về đến Tuy hòa tập hợp đếm lại được còn 36
người.
- Chiến dịch
Huế-Đà Nẵng: Kể từ sau cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên tin thất
bại đã bay khắp miền Nam, binh sĩ mất hết tinh thần, quân đội gần như
không chiến đấu mà bỏ chạy. Các nhà lãnh đạo chiến tranh của Mặt Trận Giải
Phóng nhận định ra quân đội Cộng hòa đã không còn chiến đấu có tổ chức
chặt chẽ được nữa; họ liền tiến hành phương
án thời cơ tung ngay quân đoàn 2 (hay Binh đoàn Hương Giang
được thành lập từ các đơn vị của quân khu Trị – Thiên và khu 5) nhanh
chóng tiến công đánh chiếm cố đô Huế và thành phố lớn thứ hai của Việt
Nam Cộng hòa, Đà Nẵng. Quân
đội Việt Nam Cộng hòa vội vã rút lui khỏi Quảng Trị về Huế và trước sức ép
của đối phương quyết định rút chạy bỏ Huế nhưng đường núi về phía nam đã
bị đối phương cắt mất, họ chỉ còn một con đường chạy ra biển để chờ tàu
hải quân vào cứu. Cũng giống như cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút
chạy này đã trở thành hỗn loạn và cướp bóc. Số nào được cứu lên tàu hải
quân thì khi lên đến bờ cũng không thể tập hợp lại thành đơn vị chiến đấu
được nữa, số còn lại bỏ vũ khí tự tan vỡ. Ngày 26 tháng 3 quân Cộng sản vào Huế. Đà
Nẵng cũng không tránh được bị chiếm. Khi quân đoàn 2 của Bắc Việt Nam tiến
đến Đà Nẵng cảnh hỗn loạn đang diễn ra, quân lính đang cướp bóc. Quân lính
và dân cố gắng thoát khỏi thành phố bằng tàu hải quân, các đơn vị vòng
ngoài không còn tinh thần chiến đấu nữa; quân Quân Giải phóng bỏ qua vòng
ngoài thọc sâu đánh chiếm thành phố mà không có kháng cự đáng kể. Tại đây
10 vạn binh lính và sỹ quan đã ra hàng (ngày 29 tháng 3). Quân khu 1 Việt Nam Cộng
hòa đã bị xoá bỏ.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa dồn hết các toán quân còn sót lại của Quân đoàn 2 của họ chuyển sang cho Quân đoàn 3 chỉ huy để cố lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang nhưng cũng không chặn được quân Cộng sản mà tư lệnh chiến trường cũng bị bắt. Quân khu 1 và 2 của Việt Nam Cộng hòa đã bị xoá bỏ. Bây giờ quân Cộng sản đã ào xuống đồng bằng Đông Nam Bộ của quân đoàn và quân khu 3 Việt Nam Cộng hòa, chỉ còn hơn 100 km là đến Sài Gòn.
Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ từ xa của Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Quân đoàn 4 (hay Binh đoàn Cửu Long) của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam được thành lập từ các sư đoàn và đơn vị tại miền Đông Nam Bộ định chiếm Xuân Lộc trong hành tiến. Nhưng sư đoàn 18 đã chống cự có tổ chức, đây là nỗ lực chiến đấu có tổ chức dài ngày cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Quân đoàn 4 của Cộng sản không chiếm được Xuân Lộc trong hành tiến bắt buộc phải dừng lại tổ chức trận địa tiến công. Mặt khác họ không để mất thì giờ với Xuân Lộc mà đi vòng qua vòng vây tiến về phía Biên Hòa. Sau 12 ngày cầm cự, từ 9 tháng 4 đến 21 tháng 4, Sư đoàn 18 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn. Trước tình hình không thể cứu vãn tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức để người khác có cơ hội đàm phán với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng ông không phải là người có thể nói chuyện được với đối phương. Các dàn xếp của các lực lượng thứ ba đã đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng thống từ ngày 28 tháng 4.
- Chiến dịch
Hồ Chí Minh: Sau khi tập hợp đủ lực lượng gồm 15 sư đoàn và rất
nhiều trung đoàn, lữ đoàn độc lập khác để đảm bảo áp đảo chắc thắng, Quân
Đội Nhân Dân Việt Nam bắt đầu tiến công Sài Gòn để chấm dứt chiến tranh
trong một chiến dịch được gọi tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh, bắt đầu từ
ngày 26 tháng 4.
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam tổ chức theo 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232
tương đương quân đoàn đánh 5 mũi từ 5 hướng vào Sài Gòn. Quân lực Việt Nam
Cộng hòa đã kháng cự ác liệt trên một số hướng nhưng đã đến nước không thể
kháng cự lâu dài được nữa. Quân Cộng sản đánh từ ngày 26 đến cuối ngày 28
tháng 4 thì họ đến được cửa ngõ Sài Gòn và có thể đi thẳng vào thành phố.
Để tránh mọi rắc rối với Hoa Kỳ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam dừng lại bên
ngoài thành phố 1 ngày để người Mỹ tổ chức di tản xong họ mới vào. 8 giờ
sáng 30 tháng 4
Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố Sài Gòn bỏ ngỏ và ra lệnh cho quân đội
đơn phương ngừng chiến chờ đối phương vào bàn giao chính quyền. Bộ tổng
tham mưu ra mệnh lệnh chấm dứt kháng cự. Quân Đội Nhân Dân Việt Nam tiến
nhanh vào thành phố và chỉ gặp những kháng cự lẻ tẻ, vô tổ chức. Đến 11
giờ 30 phút Dương Văn Minh lên đài phát thanh đọc tuyên bố đầu hàng vô
điều kiện. Chiến tranh Việt Nam chấm dứt.
Về việc
kết thúc chiến tranh
Bài chi tiết: Sự kiện 30
tháng 4, 1975
Những giờ phút
cuối cùng của Sài Gòn trước khi thất thủ
Việc đánh chiếm Sài Gòn kết thúc
chiến tranh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn ra khá ôn hòa, rất ít đổ
máu và thành phố nguyên lành. Tất nhiên việc sụp đổ đầu hàng của Việt Nam Cộng
hòa là kết quả của sức mạnh quân sự áp đảo của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam,
nhưng việc kết thúc chiến tranh ôn hòa không đổ máu dân chúng, có đóng góp
nhiều của lực lượng thứ ba
và vai trò không nhỏ của Dương Văn Minh
và các phụ tá. Trong bối cảnh không còn cơ hội kháng cự, với cách nhìn thực tế
và không cực đoan, ông Dương Văn Minh được các lực lượng chính trị thứ ba đưa
lên làm tổng thống để đảm bảo một cuộc chuyển giao chế độ êm thấm và không đổ
máu, không trả thù.[95] Ông đã làm được việc này bằng cách tuyên
bố Sài Gòn bỏ ngỏ và sẵn sàng đón nhận quân Cộng sản vào để làm thủ tục bàn
giao chính quyền. Đối với hoàn cảnh chiến sự và chính trị lúc đó có lẽ đây là
một giải pháp đúng đắn. Cùng với việc ra mệnh lệnh đơn phương ngừng chiến, thực
tế từ sáng sớm 30 tháng 4, Quân
lực Việt Nam Cộng hòa đã ngừng kháng cự và Quân Giải Phóng Miền Nam vào Sài Gòn
không gặp kháng cự có tổ chức.Ngay sau khi Quân Đội Nhân Dân Việt Nam chiếm thành phố và làm chủ hoàn toàn miền Nam, các cấp chỉ huy chính trị-quân sự của những người Cộng sản miền Nam mà đại diện là Thượng tướng Trần Văn Trà – Tư lệnh quân quản Sài Gòn đã có cách nhìn và việc làm thông cảm, hợp tình, hợp lý và những lời nói khích lệ đối với các cấp chính quyền và quân đội đối phương.[cần dẫn nguồn]
Phong
trào phản chiến
Bài chi tiết: Phong
trào phản đối chiến tranh Việt Nam
Cuộc chiến tranh tại Việt Nam đã
bị phản đối từ đầu thập niên 1960, nhưng không được chú ý và phải cho đến khi 1
người Mỹ là Norman Morrison
tự thiêu vào năm 1965 thì dư luận thế giới mới biết đến[96].Phong trào phản chiến bước sang một bước ngoặt mới khi cuộc biểu tình của sinh viên Đại học Kent State (bang Ohio) ngày 4-5-1970 đã bị Vệ binh quốc gia Mỹ đàn áp làm 4 sinh viên bị chết và 9 người khác bị thương.
Đã có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh ở trên khắp các bang ở Mỹ, 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch, 2 triệu người Mỹ “gây thiệt hại bất hợp pháp” vì chống chiến tranh Việt Nam, 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh chống chiến tranh Việt Nam, trong đó có cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton.[96]
Trong suốt cuộc chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì tranh thủ phong trào hòa bình ở Mỹ. Theo đánh giá của William Colby thì họ được dư luận ủng hộ mạnh mẽ do việc giới thông tin đại chúng của Mỹ dễ dàng vào được miền Nam Việt Nam trong khi nếu muốn vào miền Bắc Việt Nam lại rất khó, và do đó, tin tức về những khiếm khuyết của chính phủ Việt Nam Cộng hoà thì công chúng Mỹ được biết trong khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì chẳng có gì hết vì họ không cho phép đưa tin.[97]
Phong trào này đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của những người cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh này.[98]
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét