Bình
thơ: Người bán rau
Một mớ hành ta
Một mớ ngò tây
Tập tàng một mớ
Mỗi thứ dăm cây
Rau xanh như chị
Chị như rau gầy
Có người hỏi mua
Chị mừng nín thở
Sợ e khách đùa
Dăm ngàn bạc lẻ
Chợ tan lúc nào
Bước thấp bước cao
Chị về sắm tết.
THÁI HẢI
Năm mươi hai từ đơn, bài thơ ngắn gọn, giản dị, dễ đọc, dễ thuộc mà có sức lay động dữ dội. Nó là một bức tranh nhỏ, một bức tượng nhỏ, mà - như đồ chơi Matrirốtca (lật đật) của Nga - bên trong còn có những bức tranh tượng nhỏ khác.
Một mớ hành ta/Một mớ ngò tây/ Tập tàng một mớ là ba khuôn hình cận cảnh miêu tả tĩnh vật định danh: hành ta, ngò tây, rau tập tàng, và chi li tỉ mẩn đến nghiệt ngã: Mỗi thứ dăm cây. Một người nghèo vốn liếng ít ỏi?! Đương nhiên rồi. Người có chút vốn không sở hữu cái mẹt rau buồn đến thế. Chủ nhân của thứ tài sản trên đây không thể có gương mặt hồng, tươi tắn, không cài trâm vấn khăn… Một người đàn bà nghèo đến tội nghiệp, chỉ biết trồng rau, nhổ rau đi bán - mà cái phần vườn ấy chắc cũng không rộng…
Rau xanh như chị - ống kính camera sau ba cú bấm cận cảnh chuyển sang đặc tả phải hết sức chuẩn để miêu tả được cái chân dung và tâm trạng người bán rau, vừa mang tính thời sự báo chí (chân dung) và đã bước sang địa hạt nghệ thuật (tâm trạng).
Tiếp ngay đó Thái Hải bấm tiếp một cú đặc tả hoàn toàn nghệ thuật - thực ra là một bức ảnh truyền thần cao tay Chị như rau gầy. Thật tài tình, với 8 từ đơn, nhà thơ vẽ xong chân dung và thân phận người đàn bà: luống tuổi, gầy, xanh, buồn héo, nghèo và… thủ phận.
Ngay sau đó, tác giả thoát ra khỏi tâm trạng ủ dột của người bán hàng. Vì sao? Vì chị đến đây là để bán hàng, để mưu sinh, bán hàng mà cứ ỉu xìu như rau cải héo, mà xanh xao bệnh tật liệu ai dám mua đây!? “Thương trường như chiến trường”, chợ là chào hàng, mặc cả, cò cưa - chợ không có chỗ cho lòng thương hại: Có người hỏi mua/ Chị mừng nín thở/ Sợ e khách đùa. Trời ơi! Bất hạnh đến thế ư?! Một mớ rau tập tàng bán được bao nhiêu, lãi được bao nhiêu, liệu người ta có mua hay chỉ hỏi rồi đi qua mà đã khiến người đàn bà giật thót mình đến nín thở.
Kịch tính đẩy lên cao trào, và thân phận người đàn bà bán rau cũng được lột tả hết. Ba câu thơ ngắn gợi ta nhớ đến Giấc mơ anh lái đò của Nguyễn Bính: Một người chèo đò ngang cứ chiều chiều chở một thôn nữ xinh đẹp sang sông trước đây. Khi vắng khách anh nằm trên lái thuyền mơ màng, rồi mình cũng được đi học, thi đỗ trạng nguyên, vinh quy bái tổ, cùng rước nàng về: Võng anh đi trước võng nàng/ Cả hai chiếc võng cùng sang một đò. Bỗng giật mình nghe tin “ai” sắp lấy chồng, đám cưới to lắm. Nhà trai rước dâu bằng chín chiếc đò, nhà gái ăn chín buồng cau (đông lắm). Tiền chi phí tới chín nghìn quan. Ngẫm lại tài sản của mình, thử đem dạm bán: Lang thang anh dạm bán thuyền/ Có người trả chín quan tiền lại thôi. 9 đồng so với 9000 đồng, còn xa quá. Mà người ta chỉ trả chơi chứ không mua.
Cái người khách mua rau của chị đã ngã giá chưa mà chị mừng tới nín thở vậy?! Đấy là cách thậm xưng quyết liệt nhất như một cú đánh hiểm vào trái tim độc giả làm tan chảy những mảnh lòng băng giá, vô cảm nhất. Đây là một toàn cảnh hẹp, động: Người khách hàng đứng thờ ơ hỏi mua và một cảnh tâm trạng: chị mừng quýnh quáng đến nín thở. Còn nhớ câu thơ của Pêtôphi miêu tả niềm vui của một em bé sắp bị lính Đức hành hình mà cứ tưởng mình đước thả tự do…
Em mừng quýnh cả đôi chân
Nho nhỏ đôi gót son em băng liều giữa tuyết
Chiều đó em đi… Vĩnh biệt.
Thái Hải cũng thế. Chị bán rau mừng nín thở nhưng nổi mừng của chị thật thảm hại. Toàn bộ mớ rau bán được chỉ vỏn vẹn “Dăm ngàn bạc lẻ”. Bạc lẻ thì tất nhiên rồi. Nhưng người đọc còn cảm nhận được những ý ngoại ngôn, chắc nó không còn nguyên lành, không còn mới và … ướt nhoèn. Cũng mặc nhiên buổi chợ ấy có mưa bay bay, và rét.
Buổi chợ cũng được Thái Hải đặt vào thời điểm điển hình đến nghiệt ngã: Chợ tết. Dăm ngàn bạc lẻ/ Chợ tan lúc nào/ Bước thấp bước cao/ Chị về sắm tết. Ơ hay! Chợ tan lúc nào rồi cũng không biết, lại còn đi sắm tết - sắm ở đâu? Với dăm ngàn bạc lẻ và khu chợ đã vãn… Thế là, một khoảng lặng dành cho vĩ thanh của bản nhạc buồn: Một căn lều nhỏ, người đàn bà trở về (quần ống xăn ống xổ). Trong căn nhà có những đứa trẻ ríu rít mừng “mạ đi chợ về”.
Thái Hải đã thành công với bài thơ ngắn, ý tưởng mạnh và đầy lòng nhân ái. Thơ là tâm, là tình, là cảm, là cho… và, bài thơ ngắn của Thái Hải đã hoàn thành xuất sắc chức năng nghệ thuật: Lay động lòng người. Những ai từng đọc bài thơ này, một ngày giáp tết đi ra chợ gặp một người đàn bà gầy, buồn ngồi âm thầm bên mẹt rau nhỏ mà trái tim đa cảm không có một chút động cựa mới là lạ.
Bài thơ
"Cây tam cúc" của Hoàng Cầm
Trẻ em bây
giờ với gánh nặng học hành bài vở, phút rỗi rãi hiếm hoi thường lao vào những
trò chơi hiện đại, làm sao có được niềm hạnh phúc đơn sơ, ấm áp từ những trò
chơi ở làng quê xưa: chơi khăng, đánh đáo, đánh quay, chơi ô ăn quan... trong
mảnh sân tràn ngập tiếng cười.
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em.
Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì.
Đứa được
Chinh chuyền xủng xoẻng
Đứa thua
Đáo gỡ ngoài thềm
Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em.
Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi
Em đứng nhìn theo Em gọi đôi.
Bài thơ của Hoàng Cầm thật giàu chi tiết, hình ảnh gợi hình, gợi cảm, thâu tóm hoàn hảo một trò chơi trí tuệ đơn giản mà vui, có chút chinh xèng gây men: chơi tam cúc, làm sống dậy hoài niệm đẹp về tuổi ấu thơ của lớp người trung niên chúng ta. Cỗ bài cong mép vì đã cũ, hành vi dấm dúi trốn cha giấu mẹ, rút trộm rơm nhà làm chiếu, người chơi, cách chơi, được phởn phơ, thua đáo gỡ... chân thực, đáng yêu đến lạ lùng. Chỉ bằng ấy chi tiết đã đủ tạo nên chất thơ, thứ thơ được gẩy ra từ rơm rạ của cuộc sống thanh bình dung dị nơi thôn dã.
Những câu thơ 7 chữ, 8 chữ ngắt dòng dài ngắn khác nhau, khi nén đúc, khi trải rộng, co duỗi nhịp nhàng mô phỏng nhịp điệu cất bài lên, hạ bài xuống rộn ràng, náo nức, bí hiểm bất ngờ, gợi tả tài tình không khí của cuộc chơi và tâm trạng người trong cuộc.
Cũng như trong một số bài thơ khác của Hoàng Cầm, ở đây ta lại gặp nhân vật trữ tình xưng “Em” trong quan hệ thân tình gần gũi với “Chị”. Một thứ quan hệ tình cảm khá đặc biệt, không chỉ là tình chị em đơn thuần, đâu hiếm gặp trong đời. Người em ấy không hoàn toàn còn là trẻ con nữa, nên đã biết tranh thủ: “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm”, chớp được cái khoảnh khắc thăng hoa của sắc đẹp môi hồng má đỏ bởi vị nồng cay của miếng trầu nơi chị. Để mà ngây ngất giấu thầm ước vọng mơ hồ nhưng khắc khoải:
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em
…
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em
Xe hồng, đôi cây bài tam cúc, đã trở thành biểu tượng cho ước vọng lứa đôi hạnh phúc, cứ mỗi lúc lại dội lên trong lòng “Em”.
Ở cái tuổi chập chờn lằn ranh trẻ con - người lớn, cậu bé - chàng trai, trong tình cảm của “Em” có nét ích kỷ thật đáng yêu qua niềm mong mỏi âm thầm tưởng như phi lý mà có lý: “Em đừng lớn nữa Chị đừng đi”. Ô hay! “Chị đừng đi” là niềm mong mỏi phải lẽ rồi. Nhưng sao lại mong “Em đừng lớn nữa”? Phải chăng trong trí não của “Em” luôn có “Chị”.
Người “Em” thì đa tình, đa cảm, giàu mộng mơ, trong khi “Chị” thì vô tư hồn nhiên, không để ý mọi hành vi và diễn biến tâm trạng của “Em”. Vì vậy, đến kết bài thơ là cảnh chị cũng lại hồn nhiên lên xe hoa, để lại trong “Em” nỗi thất vọng tiếc nuối đến ngẩn ngơ. Nỗi đau riêng hòa trong nỗi đau chung: “Năm sau giặc giã/ Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ/ Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi/ Em đứng nhìn theo Em gọi đôi”. Một thuở thanh bình đã chấm dứt.
Lấy cây tam cúc và cuộc chơi bài tam cúc làm ẩn dụ, nhà thơ gửi gắm khát vọng yêu đương kín đáo và nỗi đau mất mát của một tình yêu đơn phương, không tới bến bờ hạnh phúc, gợi lên trong ta niềm trắc ẩn trước những éo le, uẩn khúc của lòng người.
Gấp trang thơ lại, lòng ta còn vương vấn mãi làn hương mái tóc người con gái đương thì, mùi rơm thơm ngái của đồng quê và nhất là hương vị của một tình yêu vô vọng vừa chớm nở...
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em.
Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì.
Đứa được
Chinh chuyền xủng xoẻng
Đứa thua
Đáo gỡ ngoài thềm
Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em.
Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi
Em đứng nhìn theo Em gọi đôi.
Bài thơ của Hoàng Cầm thật giàu chi tiết, hình ảnh gợi hình, gợi cảm, thâu tóm hoàn hảo một trò chơi trí tuệ đơn giản mà vui, có chút chinh xèng gây men: chơi tam cúc, làm sống dậy hoài niệm đẹp về tuổi ấu thơ của lớp người trung niên chúng ta. Cỗ bài cong mép vì đã cũ, hành vi dấm dúi trốn cha giấu mẹ, rút trộm rơm nhà làm chiếu, người chơi, cách chơi, được phởn phơ, thua đáo gỡ... chân thực, đáng yêu đến lạ lùng. Chỉ bằng ấy chi tiết đã đủ tạo nên chất thơ, thứ thơ được gẩy ra từ rơm rạ của cuộc sống thanh bình dung dị nơi thôn dã.
Những câu thơ 7 chữ, 8 chữ ngắt dòng dài ngắn khác nhau, khi nén đúc, khi trải rộng, co duỗi nhịp nhàng mô phỏng nhịp điệu cất bài lên, hạ bài xuống rộn ràng, náo nức, bí hiểm bất ngờ, gợi tả tài tình không khí của cuộc chơi và tâm trạng người trong cuộc.
Cũng như trong một số bài thơ khác của Hoàng Cầm, ở đây ta lại gặp nhân vật trữ tình xưng “Em” trong quan hệ thân tình gần gũi với “Chị”. Một thứ quan hệ tình cảm khá đặc biệt, không chỉ là tình chị em đơn thuần, đâu hiếm gặp trong đời. Người em ấy không hoàn toàn còn là trẻ con nữa, nên đã biết tranh thủ: “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm”, chớp được cái khoảnh khắc thăng hoa của sắc đẹp môi hồng má đỏ bởi vị nồng cay của miếng trầu nơi chị. Để mà ngây ngất giấu thầm ước vọng mơ hồ nhưng khắc khoải:
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em
…
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em
Xe hồng, đôi cây bài tam cúc, đã trở thành biểu tượng cho ước vọng lứa đôi hạnh phúc, cứ mỗi lúc lại dội lên trong lòng “Em”.
Ở cái tuổi chập chờn lằn ranh trẻ con - người lớn, cậu bé - chàng trai, trong tình cảm của “Em” có nét ích kỷ thật đáng yêu qua niềm mong mỏi âm thầm tưởng như phi lý mà có lý: “Em đừng lớn nữa Chị đừng đi”. Ô hay! “Chị đừng đi” là niềm mong mỏi phải lẽ rồi. Nhưng sao lại mong “Em đừng lớn nữa”? Phải chăng trong trí não của “Em” luôn có “Chị”.
Người “Em” thì đa tình, đa cảm, giàu mộng mơ, trong khi “Chị” thì vô tư hồn nhiên, không để ý mọi hành vi và diễn biến tâm trạng của “Em”. Vì vậy, đến kết bài thơ là cảnh chị cũng lại hồn nhiên lên xe hoa, để lại trong “Em” nỗi thất vọng tiếc nuối đến ngẩn ngơ. Nỗi đau riêng hòa trong nỗi đau chung: “Năm sau giặc giã/ Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ/ Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi/ Em đứng nhìn theo Em gọi đôi”. Một thuở thanh bình đã chấm dứt.
Lấy cây tam cúc và cuộc chơi bài tam cúc làm ẩn dụ, nhà thơ gửi gắm khát vọng yêu đương kín đáo và nỗi đau mất mát của một tình yêu đơn phương, không tới bến bờ hạnh phúc, gợi lên trong ta niềm trắc ẩn trước những éo le, uẩn khúc của lòng người.
Gấp trang thơ lại, lòng ta còn vương vấn mãi làn hương mái tóc người con gái đương thì, mùi rơm thơm ngái của đồng quê và nhất là hương vị của một tình yêu vô vọng vừa chớm nở...
“Viếng
bạn” của Hoàng Lộc - bài thơ cảm động
Nguyễn
Đình San
“Viếng bạn” là một bài thơ kiệm lời nhưng nhiều ý. Bài
thơ ngắn ngủi đã cùng một lúc và rất tự nhiên vừa diễn tả được lòng căm thù
quân địch sâu sắc, vừa biểu hiện được tình đồng đội, đồng chí và tình quân dân
mặn nồng, thiêng liêng.
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!
Tên nó là đế quốc
Tên nó là thực dân
Nó là thằng thổ phỉ
Hay là đứa Việt gian?
Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như thắt
Gọi anh chửa thành lời
Mà hàm răng dính chặt.
Ở đây không gỗ ván
Vùi anh trong tấm chăn.
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tôi ngày phân tán.
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung.
Bài thơ được bắt đầu một cách thật tự nhiên bằng việc nhắc lại một sự kiện cuối cùng trước khi bạn ngã xuống. Cái khoảng cách giữa “hôm qua” và “hôm nay” chỉ là 24 tiếng đồng hồ mà ở đây đã là một khoảng cách không thể tưởng tượng được giữa cõi sống và cõi chết.
Theo lối diễn tả thông thường, để phụ họa cho nỗi tiếc thương của người còn sống, thiên nhiên hay được “huy động” để sụt sùi, than khóc cùng con người. Người bạn còn lại chỉ lặng lẽ chặt một cành cây để “đắp cho người dưới mộ”. Cành cây phủ ở trên mộ, che cho ngôi mộ, sao lại “đắp cho người dưới mộ” được? Nhưng có lẽ không ai bắt bẻ, chất vấn về câu thơ đột xuất này, chính vì nó đã là hợp lý nhất.
Bài thơ chỉ là “Viếng bạn”, chỉ là vài phút mặc niệm bên nấm mồ của bạn, chỉ vẻn vẹn có 6 khổ thơ 5 chữ, không có điều kiện miêu tả cụ thể cái chết của bạn mà sao người đọc hình dung rất rõ cái tư thế lúc chết cùng cả cuộc đời chiến đấu trước đó của người liệt sĩ, phải chăng vì nhờ có những câu ít có vẻ là thơ: Đứa nào bắn anh đó/ Súng nào nhằm trúng anh/ Khôn thiêng xin chỉ mặt/ Gọi tên nó ra anh!/ Tên nó là đế quốc/ Tên nó là thực dân/ Nó là thằng thổ phỉ/ Hay là đứa Việt gian?
Trong một khúc hát có những chỗ tình cảm trào dâng nhất hoặc lắng đọng nhất, ấy là chỗ “cao trào”. Trong khúc “Viếng bạn” này, có thể xem cao trào ở chỗ: Khóc anh không nước mắt/ mà lòng đau như thắt/ Gọi anh chửa thành lời/ mà hàm răng dính chặt.
Ai đã từng nếm trải đau khổ mới thấy chí lý một điều: đau khổ đến mức không kêu than, cặp mắt cứ ráo hoảnh không một giọt lệ, lúc ấy đau khổ mới đến độ tột cùng. Nhưng có lẽ cái ấn tượng mạnh nhất đến với người đọc ở mấy câu thơ trên là nhờ tác giả đã bắt gặp được một cái âm khép “ắt”, lại là âm trắc để gieo vần ở khổ thơ thứ tư. Càng đau khổ càng ái ngại hơn khi ở nơi đây, không thể có những phương tiện bình thường nhất để khâm liệm, để chôn xác bạn, chỉ có một tấm chăn, có lẽ tấm chăn này đã nhiều dịp ủ ấm hai người, nhất lại là “của đồng bào Cửa Ngăn”. Người còn sống đã gửi theo vong linh người đã khuất vật kỷ niệm cuối cùng ấp ủ tình quân dân và tình đồng chí. Nếu cả bài thơ là màu sắc u buồn, ngậm ngùi, tưởng niệm thì đến đây đã ít nhiều được sáng lên bởi một lời khấn thờ thiết tha mà cụ thể. Hẹn “mai mốt” nhưng âm điệu của bốn câu thơ cuối cùng cho ta cảm giác như tiếng súng trả thù của người bạn còn sống đã vang lên.
“Viếng bạn” là một bài thơ kiệm lời nhưng nhiều ý. Bài thơ ngắn ngủi đã cùng một lúc và rất tự nhiên vừa diễn tả được lòng căm thù quân địch sâu sắc, vừa biểu hiện được tình đồng đội, đồng chí và tình quân dân mặn nồng, thiêng liêng. Giọng thơ thâm trầm, lắng đọng phù hợp với cảnh ngộ nhưng không bi lụy, não nề.
Một bài thơ gọn gàng, hàm xúc. Không ai nghĩ tác giả làm thơ mà chỉ thấy anh thương bạn, nhớ bạn bởi vì mọi lời lẽ chỉ là những ngôn ngữ bình dị nhất. Thế mới biết, muốn hình ảnh, âm thanh, muốn nhịp điệu, tiết tấu điệu nghệ sao chăng nữa cũng không thể thay thế tình người để quyết định sức sống lâu bền của một bài thơ. “Viếng bạn” cũng là một trong số những bài thơ hay xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thật cảm động, bài thơ ra đời chẳng được bao lâu thì chính tác giả của nó đã hy sinh trong một chuyến đi công tác. Và đã có người viếng anh khi anh ngã xuống cũng như anh từng viếng đồng đội trong bài thơ.
Đến hôm nay đọc lại “Viếng bạn” ta như thấy vẫn còn nguyên vẹn không khí và cảm xúc của cả đối tượng lẫn chủ thể sáng tạo. Người đọc không mấy nghĩ bài thơ nói đến chủ đề liệt sĩ, chỉ thấy một tấm lòng, tình cảm thật lớn lao, sâu nặng mà giản dị của những người lính chung một chiến hào – những người đã có công lớn làm nên ngày hôm nay.
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!
Tên nó là đế quốc
Tên nó là thực dân
Nó là thằng thổ phỉ
Hay là đứa Việt gian?
Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như thắt
Gọi anh chửa thành lời
Mà hàm răng dính chặt.
Ở đây không gỗ ván
Vùi anh trong tấm chăn.
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tôi ngày phân tán.
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung.
Bài thơ được bắt đầu một cách thật tự nhiên bằng việc nhắc lại một sự kiện cuối cùng trước khi bạn ngã xuống. Cái khoảng cách giữa “hôm qua” và “hôm nay” chỉ là 24 tiếng đồng hồ mà ở đây đã là một khoảng cách không thể tưởng tượng được giữa cõi sống và cõi chết.
Theo lối diễn tả thông thường, để phụ họa cho nỗi tiếc thương của người còn sống, thiên nhiên hay được “huy động” để sụt sùi, than khóc cùng con người. Người bạn còn lại chỉ lặng lẽ chặt một cành cây để “đắp cho người dưới mộ”. Cành cây phủ ở trên mộ, che cho ngôi mộ, sao lại “đắp cho người dưới mộ” được? Nhưng có lẽ không ai bắt bẻ, chất vấn về câu thơ đột xuất này, chính vì nó đã là hợp lý nhất.
Bài thơ chỉ là “Viếng bạn”, chỉ là vài phút mặc niệm bên nấm mồ của bạn, chỉ vẻn vẹn có 6 khổ thơ 5 chữ, không có điều kiện miêu tả cụ thể cái chết của bạn mà sao người đọc hình dung rất rõ cái tư thế lúc chết cùng cả cuộc đời chiến đấu trước đó của người liệt sĩ, phải chăng vì nhờ có những câu ít có vẻ là thơ: Đứa nào bắn anh đó/ Súng nào nhằm trúng anh/ Khôn thiêng xin chỉ mặt/ Gọi tên nó ra anh!/ Tên nó là đế quốc/ Tên nó là thực dân/ Nó là thằng thổ phỉ/ Hay là đứa Việt gian?
Trong một khúc hát có những chỗ tình cảm trào dâng nhất hoặc lắng đọng nhất, ấy là chỗ “cao trào”. Trong khúc “Viếng bạn” này, có thể xem cao trào ở chỗ: Khóc anh không nước mắt/ mà lòng đau như thắt/ Gọi anh chửa thành lời/ mà hàm răng dính chặt.
Ai đã từng nếm trải đau khổ mới thấy chí lý một điều: đau khổ đến mức không kêu than, cặp mắt cứ ráo hoảnh không một giọt lệ, lúc ấy đau khổ mới đến độ tột cùng. Nhưng có lẽ cái ấn tượng mạnh nhất đến với người đọc ở mấy câu thơ trên là nhờ tác giả đã bắt gặp được một cái âm khép “ắt”, lại là âm trắc để gieo vần ở khổ thơ thứ tư. Càng đau khổ càng ái ngại hơn khi ở nơi đây, không thể có những phương tiện bình thường nhất để khâm liệm, để chôn xác bạn, chỉ có một tấm chăn, có lẽ tấm chăn này đã nhiều dịp ủ ấm hai người, nhất lại là “của đồng bào Cửa Ngăn”. Người còn sống đã gửi theo vong linh người đã khuất vật kỷ niệm cuối cùng ấp ủ tình quân dân và tình đồng chí. Nếu cả bài thơ là màu sắc u buồn, ngậm ngùi, tưởng niệm thì đến đây đã ít nhiều được sáng lên bởi một lời khấn thờ thiết tha mà cụ thể. Hẹn “mai mốt” nhưng âm điệu của bốn câu thơ cuối cùng cho ta cảm giác như tiếng súng trả thù của người bạn còn sống đã vang lên.
“Viếng bạn” là một bài thơ kiệm lời nhưng nhiều ý. Bài thơ ngắn ngủi đã cùng một lúc và rất tự nhiên vừa diễn tả được lòng căm thù quân địch sâu sắc, vừa biểu hiện được tình đồng đội, đồng chí và tình quân dân mặn nồng, thiêng liêng. Giọng thơ thâm trầm, lắng đọng phù hợp với cảnh ngộ nhưng không bi lụy, não nề.
Một bài thơ gọn gàng, hàm xúc. Không ai nghĩ tác giả làm thơ mà chỉ thấy anh thương bạn, nhớ bạn bởi vì mọi lời lẽ chỉ là những ngôn ngữ bình dị nhất. Thế mới biết, muốn hình ảnh, âm thanh, muốn nhịp điệu, tiết tấu điệu nghệ sao chăng nữa cũng không thể thay thế tình người để quyết định sức sống lâu bền của một bài thơ. “Viếng bạn” cũng là một trong số những bài thơ hay xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thật cảm động, bài thơ ra đời chẳng được bao lâu thì chính tác giả của nó đã hy sinh trong một chuyến đi công tác. Và đã có người viếng anh khi anh ngã xuống cũng như anh từng viếng đồng đội trong bài thơ.
Đến hôm nay đọc lại “Viếng bạn” ta như thấy vẫn còn nguyên vẹn không khí và cảm xúc của cả đối tượng lẫn chủ thể sáng tạo. Người đọc không mấy nghĩ bài thơ nói đến chủ đề liệt sĩ, chỉ thấy một tấm lòng, tình cảm thật lớn lao, sâu nặng mà giản dị của những người lính chung một chiến hào – những người đã có công lớn làm nên ngày hôm nay.
Những
dòng thơ tình nghĩa
(Đọc
"Căn nhà của những cơn mưa" - thơ Phan Tùng Lưu - NXB Hội nhà văn -
2004)
Nói văn tức là người, điều này vận vào Phan Tùng Lưu thật không sai. Một dáng dấp bậm bạp với mái tóc rễ tre dân dã, giọng nói miền Trung thứ thiệt nhiều năm lưu lạc chưa pha loãng được cái vị chát - nặng của vùng đất mà trời khi nắng thì chang chang và khi mưa thì sùi sụt! Cuộc đời nay đây mai đó, trải nhiều ngành nghề, giúp cho anh có nhiều vốn sống cũng như nhiều kỷ niệm, để sau này chưng cất chúng một cách khá cô đọng và trung thực trong nhiều trang viết, văn cũng như thơ.
Về văn anh thành công nhiều với thể ký, có lẽ cũng bởi cái tạng gắn bó với đời sống thực, ưa xê dịch. Còn thơ, một vệt kỷ niệm mảnh mai mà đằm thắm không “chộ” người đọc bằng nhiều cái sự lạ, nhưng điềm tĩnh mà đọc, mà ngâm ngợi sẽ thấy có nhiều cái được về tứ cũng như lời. Nói thật trúng thì thơ Lưu vẫn nối tiếp cái mạch truyền thống lấy cái tình làm ”gốc” và cái sự chân thật của đời sống làm “thân, cành”; trình làng một sản phẩm rất nhiều âm hưởng dân gian. Đây một kỷ niệm hiện về dẫu mờ sương ký ức nhưng vẫn như sờ mó được:
… Những khu rừng mờ sương ký ức
Những cơn đói vàng da ám ảnh đời người
… Có thể nơi bạn nằm ta đã đi qua
Bạn thấy ta nhưng không tài nào gọi được
(Khói thuốc)
Quá nửa tập thơ anh viết về kỷ niệm và chủ yếu là những kỷ niệm về chiến tranh.
Hơn ba mươi năm sau nhìn lại chặng đường bom lửa đã đi qua, anh có một cái nhìn trầm tĩnh, điềm đạm nhưng không kém phần sâu sắc. Người lính ưa nói thật những điều được, mất mình trải qua.
... Mùa xuân là ngày giỗ của khóc cười
Em gửi tôi đôi môi thời thiếu nữ
Hai mươi năm rồi giờ mới tới nơi…
(Ngày giỗ tâm hồn)
Chiến tranh đi qua, còn lại trong anh nhiều kỷ niệm về những con người và mảnh đất quê chân chất mà sâu xa tình nghĩa, những đồng đội, những người cha, những em bé, những cô gái, nhưng xúc động nhất vẫn là hình ảnh những bà mẹ… Người mẹ đã đánh mất nụ cười, người mẹ theo đoàn người bỏ xứ ăn xin, người mẹ những bàn chân chưa một lần xỏ dép, những người mẹ cho tiếng khóc để hồn ta thổn thức, những người mẹ quên tháng năm cứ u ẩn nỗi con đang nằm đâu đó.
Và cũng như bao người con từ mảnh đất chôn rau cắt rốn từ biệt mẹ ra đi, tác giả có một mong muốn cháy lòng: "Mẹ đừng khóc nữa mẹ ơi/ Làm đuôi mắt nét sông ngòi sâu thêm!".
Chiến tranh là liều thuốc thử hữu hiệu nhất để đo xem các cuộc đời, các con người và cả những vùng đất rực sáng hoặc u tối đến đâu. Mảnh đất cam go chôn rau cắt rốn trong thơ Lưu trải bao thăng trầm, thử thách để sau cùng hiện lên trọn vẹn. Miền đất đầy thử thách:
…Đạn bom gặm nhấm đất trời
Mưa phùn sinh học trắng rơi sa mù
Rừng già mê ngủ ngàn thu
Giật mình tỉnh giấc bụi mù xe tuôn.
Nhưng rồi đẹp đẽ xiết bao:
Phù sa người chảy triền miên
Hoá thành hồng ngọc cuối miền thẳm sâu...
(Tấm áo trên mình Tổ quốc)
Và như một chân lý vĩnh hằng, trên mảnh đất này những con ngưòi sau chiến thắng “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” (Nguyễn Đình Thi). Nơi đó, giờ đây cha thì “Lưỡi cày lầm lũi theo trâu/Cha đi thủng thỉnh loang mầu nắng mai”. Mẹ thì “Một đời lắc thắc hạt mưa/ Một đời cặm cụi làm bùa hộ con!”.
Và trong anh bừng sáng một niềm tự hào sâu lắng:
… Lời nào bốc cháy thành thơ
Thương đau khát vọng, ước mơ hỡi người.
(Tấm áo trên mình Tổ quốc)
Một mảng đề tài khác ta bắt gặp cũng khá đậm trong tập thơ là tình yêu. Đối tượng thẩm mỹ mà anh miêu tả là cô gái miên quê nghèo khó nhưng tháo vát và chan chứa ân tình. Như bao cô gái miền quê ta thường gặp trong các trang sách thời hiện đại: rất lạc quan và ân tình tha thiết, nhưng cô gái trong Căn nhà của những cơn mưa là cô gái đã trải qua nhiều mất mát "đôi môi bây giờ lẩm bẩm cúng giỗ về mối tình chết yểu tuổi đôi mươi", trải "nhiều mùa khô rơi giọt lệ vàng"... Không thể nào khác nơi khúc ruột miền Trung một thời đạn lửa! Nhưng trên hết những mối tình trở thành bất tử vì đôi lứa gắn bó với quê hương, với dòng tộc, niềm vui thoát thai từ đó.
... Người ơi con đường là dòng sông vui
Phù sa tình yêu đôi bờ môi.
… Ta miên man man mác mối tình đầu
Nghe gió thơm bao mùa hoa cũ…
(Dĩ vãng)
Cái thi tứ "em là quê hương" xuyên suốt, làm mảng thơ tình của Phan Tùng Lưu rất giản dị và thân thiêt. Nổi lên giữa muôn vàn son phấn của tình yêu thời mở cửa, ngưòi đọc thấy mình trở về trên dòng sông trong lành, vây bọc bởi một tình yêu êm dịu:
... Lá đi bỏ dáng tre gầy
Cò hương cánh lửa đốt ngày thành đêm
Ngõ làng dâng khói mờ em
Em gom lá rụng đốt đêm làm ngày
Khói le the, khói say say
Anh ngồi hun khói như ngày còn thơ
Ngày con chuồn đá lơ ngơ
Đậu trên ngực áo mờ mờ chũm cau
(Khói lá tre)
Con cò hương, khói lá tre, con chuồn đá, ngõ làng chan tiếng mõ trâu, ngực áo mờ mờ chũm cau..., những hình ảnh đơn sơ mà dịu ngọt, mà thân thiết; ai đi xa chẳng mong về sống lại một ngày chốn cũ, để mà:
Khói làng nuôi sống hồn tôi
Mắt em cứu rỗi một đời tha hương.
Tập thơ viết bằng nhiều thể tài: thơ bốn câu, thơ tự do, thơ văn xuôi… nhưng thành công nhất có lẽ vẫn là những câu thơ lục bát nền nã gắn với những tình cảm mộc mạc chân thành của người con miền gió Lào, cát trắng tâm tình cùng bè bạn.
Để đổi mới kỹ thuật thơ, tác giả nhiều lúc xây dựng được những hình ảnh thơ khác lạ, độc đáo, nhiều câu thơ khá đạt về nhạc điệu cũng như ngôn từ, nhưng xen vào cũng không ít câu thơ làm dáng kiểu cũ: "Tôi là kẻ suốt đời lỡ hẹn" hay "Tôi còn một chút cô đơn"… làm giảm đi ít nhiều cảm xúc ở người đọc.
Nói văn tức là người, điều này vận vào Phan Tùng Lưu thật không sai. Một dáng dấp bậm bạp với mái tóc rễ tre dân dã, giọng nói miền Trung thứ thiệt nhiều năm lưu lạc chưa pha loãng được cái vị chát - nặng của vùng đất mà trời khi nắng thì chang chang và khi mưa thì sùi sụt! Cuộc đời nay đây mai đó, trải nhiều ngành nghề, giúp cho anh có nhiều vốn sống cũng như nhiều kỷ niệm, để sau này chưng cất chúng một cách khá cô đọng và trung thực trong nhiều trang viết, văn cũng như thơ.
Về văn anh thành công nhiều với thể ký, có lẽ cũng bởi cái tạng gắn bó với đời sống thực, ưa xê dịch. Còn thơ, một vệt kỷ niệm mảnh mai mà đằm thắm không “chộ” người đọc bằng nhiều cái sự lạ, nhưng điềm tĩnh mà đọc, mà ngâm ngợi sẽ thấy có nhiều cái được về tứ cũng như lời. Nói thật trúng thì thơ Lưu vẫn nối tiếp cái mạch truyền thống lấy cái tình làm ”gốc” và cái sự chân thật của đời sống làm “thân, cành”; trình làng một sản phẩm rất nhiều âm hưởng dân gian. Đây một kỷ niệm hiện về dẫu mờ sương ký ức nhưng vẫn như sờ mó được:
… Những khu rừng mờ sương ký ức
Những cơn đói vàng da ám ảnh đời người
… Có thể nơi bạn nằm ta đã đi qua
Bạn thấy ta nhưng không tài nào gọi được
(Khói thuốc)
Quá nửa tập thơ anh viết về kỷ niệm và chủ yếu là những kỷ niệm về chiến tranh.
Hơn ba mươi năm sau nhìn lại chặng đường bom lửa đã đi qua, anh có một cái nhìn trầm tĩnh, điềm đạm nhưng không kém phần sâu sắc. Người lính ưa nói thật những điều được, mất mình trải qua.
... Mùa xuân là ngày giỗ của khóc cười
Em gửi tôi đôi môi thời thiếu nữ
Hai mươi năm rồi giờ mới tới nơi…
(Ngày giỗ tâm hồn)
Chiến tranh đi qua, còn lại trong anh nhiều kỷ niệm về những con người và mảnh đất quê chân chất mà sâu xa tình nghĩa, những đồng đội, những người cha, những em bé, những cô gái, nhưng xúc động nhất vẫn là hình ảnh những bà mẹ… Người mẹ đã đánh mất nụ cười, người mẹ theo đoàn người bỏ xứ ăn xin, người mẹ những bàn chân chưa một lần xỏ dép, những người mẹ cho tiếng khóc để hồn ta thổn thức, những người mẹ quên tháng năm cứ u ẩn nỗi con đang nằm đâu đó.
Và cũng như bao người con từ mảnh đất chôn rau cắt rốn từ biệt mẹ ra đi, tác giả có một mong muốn cháy lòng: "Mẹ đừng khóc nữa mẹ ơi/ Làm đuôi mắt nét sông ngòi sâu thêm!".
Chiến tranh là liều thuốc thử hữu hiệu nhất để đo xem các cuộc đời, các con người và cả những vùng đất rực sáng hoặc u tối đến đâu. Mảnh đất cam go chôn rau cắt rốn trong thơ Lưu trải bao thăng trầm, thử thách để sau cùng hiện lên trọn vẹn. Miền đất đầy thử thách:
…Đạn bom gặm nhấm đất trời
Mưa phùn sinh học trắng rơi sa mù
Rừng già mê ngủ ngàn thu
Giật mình tỉnh giấc bụi mù xe tuôn.
Nhưng rồi đẹp đẽ xiết bao:
Phù sa người chảy triền miên
Hoá thành hồng ngọc cuối miền thẳm sâu...
(Tấm áo trên mình Tổ quốc)
Và như một chân lý vĩnh hằng, trên mảnh đất này những con ngưòi sau chiến thắng “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” (Nguyễn Đình Thi). Nơi đó, giờ đây cha thì “Lưỡi cày lầm lũi theo trâu/Cha đi thủng thỉnh loang mầu nắng mai”. Mẹ thì “Một đời lắc thắc hạt mưa/ Một đời cặm cụi làm bùa hộ con!”.
Và trong anh bừng sáng một niềm tự hào sâu lắng:
… Lời nào bốc cháy thành thơ
Thương đau khát vọng, ước mơ hỡi người.
(Tấm áo trên mình Tổ quốc)
Một mảng đề tài khác ta bắt gặp cũng khá đậm trong tập thơ là tình yêu. Đối tượng thẩm mỹ mà anh miêu tả là cô gái miên quê nghèo khó nhưng tháo vát và chan chứa ân tình. Như bao cô gái miền quê ta thường gặp trong các trang sách thời hiện đại: rất lạc quan và ân tình tha thiết, nhưng cô gái trong Căn nhà của những cơn mưa là cô gái đã trải qua nhiều mất mát "đôi môi bây giờ lẩm bẩm cúng giỗ về mối tình chết yểu tuổi đôi mươi", trải "nhiều mùa khô rơi giọt lệ vàng"... Không thể nào khác nơi khúc ruột miền Trung một thời đạn lửa! Nhưng trên hết những mối tình trở thành bất tử vì đôi lứa gắn bó với quê hương, với dòng tộc, niềm vui thoát thai từ đó.
... Người ơi con đường là dòng sông vui
Phù sa tình yêu đôi bờ môi.
… Ta miên man man mác mối tình đầu
Nghe gió thơm bao mùa hoa cũ…
(Dĩ vãng)
Cái thi tứ "em là quê hương" xuyên suốt, làm mảng thơ tình của Phan Tùng Lưu rất giản dị và thân thiêt. Nổi lên giữa muôn vàn son phấn của tình yêu thời mở cửa, ngưòi đọc thấy mình trở về trên dòng sông trong lành, vây bọc bởi một tình yêu êm dịu:
... Lá đi bỏ dáng tre gầy
Cò hương cánh lửa đốt ngày thành đêm
Ngõ làng dâng khói mờ em
Em gom lá rụng đốt đêm làm ngày
Khói le the, khói say say
Anh ngồi hun khói như ngày còn thơ
Ngày con chuồn đá lơ ngơ
Đậu trên ngực áo mờ mờ chũm cau
(Khói lá tre)
Con cò hương, khói lá tre, con chuồn đá, ngõ làng chan tiếng mõ trâu, ngực áo mờ mờ chũm cau..., những hình ảnh đơn sơ mà dịu ngọt, mà thân thiết; ai đi xa chẳng mong về sống lại một ngày chốn cũ, để mà:
Khói làng nuôi sống hồn tôi
Mắt em cứu rỗi một đời tha hương.
Tập thơ viết bằng nhiều thể tài: thơ bốn câu, thơ tự do, thơ văn xuôi… nhưng thành công nhất có lẽ vẫn là những câu thơ lục bát nền nã gắn với những tình cảm mộc mạc chân thành của người con miền gió Lào, cát trắng tâm tình cùng bè bạn.
Để đổi mới kỹ thuật thơ, tác giả nhiều lúc xây dựng được những hình ảnh thơ khác lạ, độc đáo, nhiều câu thơ khá đạt về nhạc điệu cũng như ngôn từ, nhưng xen vào cũng không ít câu thơ làm dáng kiểu cũ: "Tôi là kẻ suốt đời lỡ hẹn" hay "Tôi còn một chút cô đơn"… làm giảm đi ít nhiều cảm xúc ở người đọc.
![]() |
Một
góc Hang Kia.
|
Cái tên Hang Kia đã xuất hiện dày đặc trên mặt báo trong vài năm trở lại đây. Thế nhưng, kể từ ngày xảy ra vụ đọ súng kinh hoàng, Hang Kia trở nên im bặt. Cánh báo chí chẳng dám đánh cược tính mạng mình vào đây "tác nghiệp". Trước khi chúng tôi có ý định vào Hang Kia, một chiến sĩ công an tỉnh Hoà Bình đã căn dặn rất nhiều điều.
Lời bình của Trần Thị
Tuyết Hạnh
Giận em đập nát câu thề
Nắng hồng rơi vỡ dầm dề mưa tuôn
Bão dông giăng kín mây nguồn
Gió tan tác nhớ, sóng cuồn cuộn đau…
Bây giờ người ấy trầu cau
Dửng dưng qua bến sông sâu, xuống đò
Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hoá đá…Hết chờ, hết mong!
Lội đò tiễn sáo sang sông
Câu thơ xưa thả bềnh bồng hoàng hôn
Vung tay bỏng lửa ghen hờn
Dở dang giờ nhặt cô đơn bốn mùa...
Một
mối tình tan vỡ có rất nhiều nguyên do và chẳng nguyên do nào giống nguyên do
nào. Ấy thế mới là tình yêu! Tình yêu đâu có sẵn một lối mòn, có chung một công
thức? Ở bài thơ này, mối tình kia tan vỡ là do người con trai đã ghen – cái
ghen bỏng lửa. Những câu thơ trĩu nặng nỗi niềm tiếc nuối, đớn đau và sám hối bởi
một mối tình đã mất…Thể thơ lục bát quen thuộc, đề tài cũng không mới và thi
liệu mang đậm chất truyền thống, song bài thơ đã gây ấn tượng và cuốn hút người
đọc chính bởi tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Ghen
là một trạng thái sẵn có, thường trực và tiềm ẩn trong tình yêu. Chúng ta,
những kẻ đã yêu và đang yêu, chắc cũng hơn một lần có cảm giác ấy. Và khi cơn
ghen “bốc hoả”, thì người trong cuộc không còn sáng suốt nữa: “Giận em đập nát
câu thề”. Hai chữ “đập nát” cho thấy tính chất quyết liệt, sôi sục trong hành
động. Thế rồi bao nhiêu thề bồi, hẹn ước bấy lâu đã tan tành. Vây quanh nhân
vật trữ tình chỉ còn lại sóng gió, mây mưa và dông bão. Nỗi đau ở đây lớn quá!
Tác giả phải mượn đến những trạng thái của thiên nhiên để diễn tả: Nắng vỡ, mây
buồn, mưa thì dầm dề, bão dông lại giăng kín…Dường như vẫn chưa đủ, nỗi đau lại
trào lên, quặn thắt, tan tác, cuồn cuộn trong sóng, trong gió.
Người đọc không biết nhân vật trữ tình đã ghen vì cớ gì, chỉ biết rằng, giờ đây, trong tâm hồn anh cứ ngồn ngộn đớn đau và cô đơn. Cơn ghen quyết liệt và mù quáng của kẻ si tình đã dẫn đến một hiện thực phũ phàng, đôi lứa phân li, chia lìa, xa cách: “Bây giờ người ấy trầu cau/ Dửng dưng qua bến sông sâu xuống đò”. Người thương năm nào nay đã “xuống đò”, “sang sông”. Mà lại sang sông một cách “dửng dưng”, lạnh lùng. Còn lại phía bên này là nỗi lẻ loi, hẫng hụt như dâng ngập cả bến sông:
Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hoá đá… hết chờ, hết mong!
Thì ra, người trong cuộc tuy ghen nhưng vẫn còn yêu, vẫn chờ vẫn mong, vẫn còn nặng tình lắm! Mà càng nặng tình lại càng quặn đau, ngậm ngùi. Người thương đi lấy chồng đâu phải người ta phụ bạc, chỉ tại mình nông nổi “ vung tay quá trán”. Chỉ một cơn ghen bỏng lửa trong khoảnh khắc ngắn ngủi, si mê và mù quáng mà nỗi đau cứ dằng dặc cả đời người. Hai chữ “vung tay” chất chứa cả một nỗi sám hối ghê gớm của người trong cuộc.
Bài thơ có tên là “Ghen”, song điều tác giả muốn nói không chỉ có vậy. Ghen chỉ là biểu hiện bên ngoài của sự ích kỉ, hẹp hòi và mù quáng. Dẫu biết rằng đã yêu thì phải ghen, song để có được một tình yêu trọn vẹn thì phải biết độ lượng, vị tha…Đừng để phải ân hận muộn màng!
Trần Thị Tuyết Hạnh
VĂN GIÁ
1. Ngày Trần Mai Ninh sáng tác bài thơ Nhớ máu (9-11-1946) đang
là những ngày đầu tiên của phong trào
2.
Bài thơ được thiết lập trên một cái tứ là hình ảnh cơn gió. Bắt đầu là cơn gió
tự nhiên của đất đai xứ sở. Cơn gió này được nhà thơ gọi lên bằng những hình
dung từ rất sống động: chuyên cần, phóng túng, đi ngang đi dọc, trẻ, nghĩ,
cười, reo lên lồng lộng. Gió vốn là vô hình vô ảnh, ấy thế mà tác giả đã hình
dung hoá, nhân hoá, tạo nên một gương mặt gió nồng nàn, tươi trẻ, tràn trề sức
sống, với một tâm trạng náo nức, sung sướng.
Khi
câu thơ tiếp theo xuất hiện: "Tôi đã thấy lòng tôi dậy" thì hình ảnh
ngọn gió bắt đầu mang ý nghĩa ẩn dụ. Thì ra, lòng người đang náo nức băng băng
xốc tới, hướng về đô thành Nha Trang tiêu diệt kẻ thù nên nhìn ra những con gió
cũng như những người bạn đồng hành cùng chí hướng. Gió đến đây vừa là cái gió
của ngoại giới, vừa là cái gió của tâm hồn, của ý chí, của tư thế và sức mạnh
chiến đấu.
Vẫn là tư thế của những người chiến sĩ băng băng xốc tới như
gió, mấy câu thơ điệp lại:
Mắt ta căng lên
Cả mặt
Cả người,
Cả hồn ta sát tới
Tiếp theo đấy là tư thế của ngọn cờ Tổ quốc tung bay thật hào sảng, bát ngát, tự tin:
Cờ đã nâng cao
Màu đỏ máu
Với sao vàng tung bay rực rỡ.
Mắt ta căng lên
Cả mặt
Cả người,
Cả hồn ta sát tới
Tiếp theo đấy là tư thế của ngọn cờ Tổ quốc tung bay thật hào sảng, bát ngát, tự tin:
Cờ đã nâng cao
Màu đỏ máu
Với sao vàng tung bay rực rỡ.
Nhìn
chung, nhịp đi của cả bài thơ, không khí của cả bài thơ là nhịp đi và không khí
của gió - gió lòng, gió ào ạt náo nức xông lên giết giặc, gió của khí thế chiến
thắng. Nhịp thơ phóng túng, cuồn cuộn như cố theo kịp bước đi của gió.
3.
Bài thơ thể hiện một cách khác về hình ảnh người bộ đội. Ở Hồng Nguyên, Quang
Dũng, Chính Hữu dẫu sao bên cạnh cái kiêu dũng còn ít nhiều mang chất hào hoa,
đẹp theo cách lãng mạn. Đến Trần Mai Ninh, hình ảnh người chiến sĩ hiện ra với
những đường nét bạo, khoẻ, gân guốc, gồ ghề, thậm chí thô nhám. Đó là kết quả
của một mỹ cảm hướng thẳng, trực diện vào chất thực của đời sống, khai thác
chất liệu đời sống một cách trung thực, cận cảnh, trực tiếp. Chính vì thế, các
câu thơ có được cái chắc, khoẻ, táo bạo. Đọc những câu thơ này bỗng thấy cái lạ
lạ, khác hẳn những cách nói của thơ ca cùng thời, nên rất ấn tượng: "Ơ,
những người!/ Đen như mực, đặc thành keo/ Tròn một củ/ Hay những người gầy sắt
lại/ Mặt rẹt một đường guơm/ Lạnh gáy/ Lòng bàn tay/ Khắc ấn chuỗi dao găm/
Chân bọc sắt/ Mắt khoét thủng đêm dày/ Túi chứa cả Nha Trang…họ bước".
Những câu thơ như thế đã tách Trần Mai Ninh ra hẳn một góc riêng so với những
bài thơ viết về người lính trong nền thơ ca kháng chiến.
4.
Bài thơ mang tên Nhớ máu. Hình ảnh máu cũng theo suốt toàn bài. Ban đầu là máu
chiến trường (ta gần máu), tiếp theo là máu kẻ thù (Ồng ộc xối đầy đường máu
chó, Ằng ặc máu), tiếp nữa là máu hy sinh của những người chiến đấu, máu làm
thành màu cờ Tổ quốc (Cờ đã nâng cao/ Màu đỏ máu; Máu chan hoà trên góc cạnh
kim cương), và sau cùng là máu-chiến- thắng (Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu). Hình
ảnh máu xuyên suốt toàn bài đưa lại cho người đọc cái cảm giác khốc liệt của
chiến tranh, cảm giác hào hùng, bi tráng…Nhiều cảm giác cùng lúc xuất hiện, như
một phức hợp. Tuy nhiên, tất cả được hoá giải bằng một câu thơ cuối đầy tư thế,
ngạo nghễ, bát ngát, hào sảng, tư thế chiến thắng: "Họ cười vang rung lớp
lớp tinh cầu". Bây giờ nói đến máu có thể không đưa lại cho người nghe một
mỹ cảm tích cực nữa. Nhưng vào hồi đó, hình ảnh máu đi vào thơ ca, âm nhạc như
một tín hiệu thẩm mỹ, nhằm để chỉ khí thế cách mạng sục sôi đánh giặc, vừa
thiêng liêng vừa quyết tử: "Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước…(Quốc ca).
5.
Với những bài như Nhớ máu của Trần Mai Ninh, cùng với nó là Nhớ (Hồng Nguyên),
Đèo Cả, Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Hải phòng 19-11-1946 (Trần Huyền Trân), Bên
kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Lên Cấm Sơn (Thôi Hữu)…chúng ta đã có thể nói được
về một thi pháp thơ kháng chiến. Một cách nhìn trực diện, cận cảnh hiện thực
đời sống với những chất liệu thô nhám, gồ ghề, gân guốc, thường ngày, chất liệu
"văn xuôi". Bài thơ không nệ khuôn khổ. Hình thế bài thơ đi theo mô
hình: hiện trạng đau thương- kẻ thù huỷ diệt- vùng lên đánh giặc- khung cảnh
thanh bình thơ mộng trong mong ước. Các câu thơ bề bộn chất liệu đời thường.
Chữ dùng, từ dùng, cách nói sáp gần với khẩu ngữ sinh hoạt thường ngày của đời
sống kháng chiến. Nhịp thơ cũng phóng túng theo, tuỳ biến, co giãn bất
kể, không gò gẫm, với nhiều đột xuất…Toàn cảnh thơ kháng chiến là những
biến hoá đa dạng và độc đáo của một đối cực lớn: trữ tình, bay bổng hết cỡ mà
cũng vâm váp hiện thực hết cỡ. Nó phản ánh chiều kích một cuộc chiến tranh
"người người lớp lớp" cùng nhất loạt tham gia đánh giặc, không trừ
một ai. Nó là hào khí dân tộc. Thơ kháng chiến chống pháp phản ánh được cái hào
khí chói sáng, lẫm liệt ấy.
Nhà
thơ Trần Mai Ninh hy sinh tại chiến trường Tuy Hoà. Giặc bắt được ông, trả thù
hèn hạ: khoét mắt ông, đem rong đi khắp chợ cùng phố nhằm thị uy dân chúng. Cái
chết thật bi thảm. Nhưng cũng thật lẫm liệt. Trong mỗi câu thơ của ông có trộn
cả máu của ông và của bao người khác. Tuy ông viết không nhiều, nhưng những vần
thơ của ông đã trở thành di sản tinh thần quý giá của dân tộc.
VĂN GIÁ
Nguyễn Đình San
“Viếng
bạn” là một bài thơ kiệm lời nhưng nhiều ý. Bài thơ ngắn ngủi đã cùng một lúc
và rất tự nhiên vừa diễn tả được lòng căm thù quân địch sâu sắc, vừa biểu hiện
được tình đồng đội, đồng chí và tình quân dân mặn nồng, thiêng liêng.
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!
Tên nó là đế quốc
Tên nó là thực dân
Nó là thằng thổ phỉ
Hay là đứa Việt gian?
Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như thắt
Gọi anh chửa thành lời
Mà hàm răng dính chặt.
Ở đây không gỗ ván
Vùi anh trong tấm chăn.
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tôi ngày phân tán.
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung.
Bài thơ được bắt đầu một cách thật tự nhiên bằng việc nhắc lại một sự kiện cuối cùng trước khi bạn ngã xuống. Cái khoảng cách giữa “hôm qua” và “hôm nay” chỉ là 24 tiếng đồng hồ mà ở đây đã là một khoảng cách không thể tưởng tượng được giữa cõi sống và cõi chết.
Theo lối diễn tả thông thường, để phụ họa cho nỗi tiếc thương của người còn sống, thiên nhiên hay được “huy động” để sụt sùi, than khóc cùng con người. Người bạn còn lại chỉ lặng lẽ chặt một cành cây để “đắp cho người dưới mộ”. Cành cây phủ ở trên mộ, che cho ngôi mộ, sao lại “đắp cho người dưới mộ” được? Nhưng có lẽ không ai bắt bẻ, chất vấn về câu thơ đột xuất này, chính vì nó đã là hợp lý nhất.
Bài thơ chỉ là “Viếng bạn”, chỉ là vài phút mặc niệm bên nấm mồ của bạn, chỉ vẻn vẹn có 6 khổ thơ 5 chữ, không có điều kiện miêu tả cụ thể cái chết của bạn mà sao người đọc hình dung rất rõ cái tư thế lúc chết cùng cả cuộc đời chiến đấu trước đó của người liệt sĩ, phải chăng vì nhờ có những câu ít có vẻ là thơ: Đứa nào bắn anh đó/ Súng nào nhằm trúng anh/ Khôn thiêng xin chỉ mặt/ Gọi tên nó ra anh!/ Tên nó là đế quốc/ Tên nó là thực dân/ Nó là thằng thổ phỉ/ Hay là đứa Việt gian?
Trong một khúc hát có những chỗ tình cảm trào dâng nhất hoặc lắng đọng nhất, ấy là chỗ “cao trào”. Trong khúc “Viếng bạn” này, có thể xem cao trào ở chỗ: Khóc anh không nước mắt/ mà lòng đau như thắt/ Gọi anh chửa thành lời/ mà hàm răng dính chặt.
Ai đã từng nếm trải đau khổ mới thấy chí lý một điều: đau khổ đến mức không kêu than, cặp mắt cứ ráo hoảnh không một giọt lệ, lúc ấy đau khổ mới đến độ tột cùng. Nhưng có lẽ cái ấn tượng mạnh nhất đến với người đọc ở mấy câu thơ trên là nhờ tác giả đã bắt gặp được một cái âm khép “ắt”, lại là âm trắc để gieo vần ở khổ thơ thứ tư. Càng đau khổ càng ái ngại hơn khi ở nơi đây, không thể có những phương tiện bình thường nhất để khâm liệm, để chôn xác bạn, chỉ có một tấm chăn, có lẽ tấm chăn này đã nhiều dịp ủ ấm hai người, nhất lại là “của đồng bào Cửa Ngăn”. Người còn sống đã gửi theo vong linh người đã khuất vật kỷ niệm cuối cùng ấp ủ tình quân dân và tình đồng chí. Nếu cả bài thơ là màu sắc u buồn, ngậm ngùi, tưởng niệm thì đến đây đã ít nhiều được sáng lên bởi một lời khấn thờ thiết tha mà cụ thể. Hẹn “mai mốt” nhưng âm điệu của bốn câu thơ cuối cùng cho ta cảm giác như tiếng súng trả thù của người bạn còn sống đã vang lên.
“Viếng bạn” là một bài thơ kiệm lời nhưng nhiều ý. Bài thơ ngắn ngủi đã cùng một lúc và rất tự nhiên vừa diễn tả được lòng căm thù quân địch sâu sắc, vừa biểu hiện được tình đồng đội, đồng chí và tình quân dân mặn nồng, thiêng liêng. Giọng thơ thâm trầm, lắng đọng phù hợp với cảnh ngộ nhưng không bi lụy, não nề.
Một bài thơ gọn gàng, hàm xúc. Không ai nghĩ tác giả làm thơ mà chỉ thấy anh thương bạn, nhớ bạn bởi vì mọi lời lẽ chỉ là những ngôn ngữ bình dị nhất. Thế mới biết, muốn hình ảnh, âm thanh, muốn nhịp điệu, tiết tấu điệu nghệ sao chăng nữa cũng không thể thay thế tình người để quyết định sức sống lâu bền của một bài thơ. “Viếng bạn” cũng là một trong số những bài thơ hay xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thật cảm động, bài thơ ra đời chẳng được bao lâu thì chính tác giả của nó đã hy sinh trong một chuyến đi công tác. Và đã có người viếng anh khi anh ngã xuống cũng như anh từng viếng đồng đội trong bài thơ.
Đến hôm nay đọc lại “Viếng bạn” ta như thấy vẫn còn nguyên vẹn không khí và cảm xúc của cả đối tượng lẫn chủ thể sáng tạo. Người đọc không mấy nghĩ bài thơ nói đến chủ đề liệt sĩ, chỉ thấy một tấm lòng, tình cảm thật lớn lao, sâu nặng mà giản dị của những người lính chung một chiến hào – những người đã có công lớn làm nên ngày hôm nay.
Nguồn: CAND
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!
Tên nó là đế quốc
Tên nó là thực dân
Nó là thằng thổ phỉ
Hay là đứa Việt gian?
Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như thắt
Gọi anh chửa thành lời
Mà hàm răng dính chặt.
Ở đây không gỗ ván
Vùi anh trong tấm chăn.
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tôi ngày phân tán.
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung.
Bài thơ được bắt đầu một cách thật tự nhiên bằng việc nhắc lại một sự kiện cuối cùng trước khi bạn ngã xuống. Cái khoảng cách giữa “hôm qua” và “hôm nay” chỉ là 24 tiếng đồng hồ mà ở đây đã là một khoảng cách không thể tưởng tượng được giữa cõi sống và cõi chết.
Theo lối diễn tả thông thường, để phụ họa cho nỗi tiếc thương của người còn sống, thiên nhiên hay được “huy động” để sụt sùi, than khóc cùng con người. Người bạn còn lại chỉ lặng lẽ chặt một cành cây để “đắp cho người dưới mộ”. Cành cây phủ ở trên mộ, che cho ngôi mộ, sao lại “đắp cho người dưới mộ” được? Nhưng có lẽ không ai bắt bẻ, chất vấn về câu thơ đột xuất này, chính vì nó đã là hợp lý nhất.
Bài thơ chỉ là “Viếng bạn”, chỉ là vài phút mặc niệm bên nấm mồ của bạn, chỉ vẻn vẹn có 6 khổ thơ 5 chữ, không có điều kiện miêu tả cụ thể cái chết của bạn mà sao người đọc hình dung rất rõ cái tư thế lúc chết cùng cả cuộc đời chiến đấu trước đó của người liệt sĩ, phải chăng vì nhờ có những câu ít có vẻ là thơ: Đứa nào bắn anh đó/ Súng nào nhằm trúng anh/ Khôn thiêng xin chỉ mặt/ Gọi tên nó ra anh!/ Tên nó là đế quốc/ Tên nó là thực dân/ Nó là thằng thổ phỉ/ Hay là đứa Việt gian?
Trong một khúc hát có những chỗ tình cảm trào dâng nhất hoặc lắng đọng nhất, ấy là chỗ “cao trào”. Trong khúc “Viếng bạn” này, có thể xem cao trào ở chỗ: Khóc anh không nước mắt/ mà lòng đau như thắt/ Gọi anh chửa thành lời/ mà hàm răng dính chặt.
Ai đã từng nếm trải đau khổ mới thấy chí lý một điều: đau khổ đến mức không kêu than, cặp mắt cứ ráo hoảnh không một giọt lệ, lúc ấy đau khổ mới đến độ tột cùng. Nhưng có lẽ cái ấn tượng mạnh nhất đến với người đọc ở mấy câu thơ trên là nhờ tác giả đã bắt gặp được một cái âm khép “ắt”, lại là âm trắc để gieo vần ở khổ thơ thứ tư. Càng đau khổ càng ái ngại hơn khi ở nơi đây, không thể có những phương tiện bình thường nhất để khâm liệm, để chôn xác bạn, chỉ có một tấm chăn, có lẽ tấm chăn này đã nhiều dịp ủ ấm hai người, nhất lại là “của đồng bào Cửa Ngăn”. Người còn sống đã gửi theo vong linh người đã khuất vật kỷ niệm cuối cùng ấp ủ tình quân dân và tình đồng chí. Nếu cả bài thơ là màu sắc u buồn, ngậm ngùi, tưởng niệm thì đến đây đã ít nhiều được sáng lên bởi một lời khấn thờ thiết tha mà cụ thể. Hẹn “mai mốt” nhưng âm điệu của bốn câu thơ cuối cùng cho ta cảm giác như tiếng súng trả thù của người bạn còn sống đã vang lên.
“Viếng bạn” là một bài thơ kiệm lời nhưng nhiều ý. Bài thơ ngắn ngủi đã cùng một lúc và rất tự nhiên vừa diễn tả được lòng căm thù quân địch sâu sắc, vừa biểu hiện được tình đồng đội, đồng chí và tình quân dân mặn nồng, thiêng liêng. Giọng thơ thâm trầm, lắng đọng phù hợp với cảnh ngộ nhưng không bi lụy, não nề.
Một bài thơ gọn gàng, hàm xúc. Không ai nghĩ tác giả làm thơ mà chỉ thấy anh thương bạn, nhớ bạn bởi vì mọi lời lẽ chỉ là những ngôn ngữ bình dị nhất. Thế mới biết, muốn hình ảnh, âm thanh, muốn nhịp điệu, tiết tấu điệu nghệ sao chăng nữa cũng không thể thay thế tình người để quyết định sức sống lâu bền của một bài thơ. “Viếng bạn” cũng là một trong số những bài thơ hay xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thật cảm động, bài thơ ra đời chẳng được bao lâu thì chính tác giả của nó đã hy sinh trong một chuyến đi công tác. Và đã có người viếng anh khi anh ngã xuống cũng như anh từng viếng đồng đội trong bài thơ.
Đến hôm nay đọc lại “Viếng bạn” ta như thấy vẫn còn nguyên vẹn không khí và cảm xúc của cả đối tượng lẫn chủ thể sáng tạo. Người đọc không mấy nghĩ bài thơ nói đến chủ đề liệt sĩ, chỉ thấy một tấm lòng, tình cảm thật lớn lao, sâu nặng mà giản dị của những người lính chung một chiến hào – những người đã có công lớn làm nên ngày hôm nay.
Nguồn: CAND
Trần Đăng Khoa
Lưu Trọng Lư là nhà thơ
tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà phê
bình thiên tài Hoài Thanh đã có những nhận xét thật chuẩn xác: "Tôi biết
có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt
giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt
giấy".
Nhận
định này dường như đã thành nỗi ám ảnh. Và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ loạng
choạng, cứ bập bỗm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán và
vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn. Còn về con người Lưu Trọng
Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: "Cả đời Lư cũng
là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác
ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai
hết".
Quả đúng vậy. Và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của ViệtNam , nghĩa là ngoài thơ ra, nó
không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng thu. Đây là bài hay nhất trong đời
thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạo trên lá vàng khô...
Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ "đầu Ngô mình Sở". Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về. Tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tý nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa. Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học ViệtNam
và chỉ xảy ra có một lần. Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn
toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chữ rất sáng
tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói
ra được một cách rạch ròi. Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng
cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi nó, chứ không thể ngắm nó bằng
lý trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí ra để làm con
dao cùn mổ xẻ những con chữ rất ngơ ngác này. Có người còn viện đến cả thi pháp
học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khoá mở cánh cửa
thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người
cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên
bài thơ có 9 câu mà đã có đến 3 câu điếp "Em không nghe":
Em không nghe mùa thu
...
Em không nghe rạo rực
...
Em không nghe rừng thu...
Em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được. Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn cứ là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xác, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô, nghĩa là nó cũng không nghe nốt. Hiểu một cách sống sít như thế thì thật thô thiển. Nhà phê bình đã kéo những đám mây ngũ sắc đang bay bảng lảng trong không trung, rồi rải xuống đường làm rơm rạ lót chân, và như thế còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ để tạo giai điệu rất đặc biệt cho bài thơ này. Ở đây, nhạc điệu cũng là một phần nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ còn ở góc độ khác, cũng nhìn bằng com mắt lý trí, có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của nước ngoài. Thực tế trong bếp núc sáng tác, có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Người bình luận còn việc cớ rằng: "Thực tế ViệtNam làm gì có khu rừng vàng. Đấy là
rừng châu Âu. Rừng Việt Nam
là rừng luốm nhuốm". Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong
Kiều: "Rừng th từng biếc chen hồng". Và con nai Việt Nam
cũng nhanh nhẹn lắm, tinh ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác "đạp trên lá vàng
khô"! Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con mắt thịt đâu! Lại
phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bà chữa cho ông thôi: "Trong thơ Lư,
nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng tiếng ấy, màu
kia chỉ có ở trong mộng. Mộng! Đó mới là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta
với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng, Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỷ 20,
ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy mình gò
ngựa ở những chốn xa xăm nào".
Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca ViệtNam đã có một kiệt tác thật hiếm
có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là
tiếng ca phàm tục của người đời...
Quả đúng vậy. Và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của Việt
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạo trên lá vàng khô...
Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ "đầu Ngô mình Sở". Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về. Tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tý nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa. Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt
Em không nghe mùa thu
...
Em không nghe rạo rực
...
Em không nghe rừng thu...
Em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được. Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn cứ là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xác, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô, nghĩa là nó cũng không nghe nốt. Hiểu một cách sống sít như thế thì thật thô thiển. Nhà phê bình đã kéo những đám mây ngũ sắc đang bay bảng lảng trong không trung, rồi rải xuống đường làm rơm rạ lót chân, và như thế còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ để tạo giai điệu rất đặc biệt cho bài thơ này. Ở đây, nhạc điệu cũng là một phần nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ còn ở góc độ khác, cũng nhìn bằng com mắt lý trí, có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của nước ngoài. Thực tế trong bếp núc sáng tác, có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Người bình luận còn việc cớ rằng: "Thực tế Việt
Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca Việt
Trần Đăng Khoa
Nguồn:
Thơ Việt Nam
Online
Mùa
thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. Con người cùng Tạo vật thảy
đều nhạy cảm. Tuy nhiên, cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn
thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa - chớm thu.
Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động
tối đa để nắm bắt những làn sóng, những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao
chuyển âm thầm trong vạn vật.
Chả
thế mà, bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. Chỉ cần
điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những
thi ảnh không thôi, cũng khó đủ giấy mực rồi. Gọn nhẹ hơn, chỉ điểm qua những
thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi, chắc cũng không xuể. Cho
nên, tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu
về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời, nghĩa là không tái hiện lại một
truyền thống, một tiền đề nữa. Mà cùng Hữu Thỉnh, bước ngay…
Sang thu
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Thu, 1977
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Thu, 1977
Tôi
mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ, nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương
trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. Kể từ nay, hương ổi của thi phẩm sẽ phả
vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò, sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo
thu, đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa.
1. Từ cấu trúc …
1. Từ cấu trúc …
Trước tiên, thử đi vào cấu trúc của thi phẩm.
Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Về bố cục, ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia, chả chịu rành mạch gì cả. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi, gió se, sương chùng chình, sông dềnh dàng, chim vội vã, nắng vẫn còn, mưa đã vơi, sấm bớt bất ngờ, hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về, thì hình sắc thu sang, đấy thay đổi tinh vi, đây đổi thay tinh tế. Ý đâu có khác gì nhau. Đến nỗi, ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng “ bí” trong việc phân định . Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ, còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch, vô tổ chức ? Không hẳn.
Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa, nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. Về cảnh vật, khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu, từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu, với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Trong khi đó, khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Như vậy, ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ ngoài vào trong, với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể !
Nhưng, cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. Cùng với cảnh, bao giờ cũng là tình, dù đậm hay nhạt, dù kín hay lộ. Tình trong cảnh, cảnh trong tình. Cho nên, đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây, là tâm tư của thi sĩ. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (… Hình như thu đã về), là đến niềm say sưa ở khổ hai (…Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu), và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(… Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). Không chỉ có thế. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm, là các cấp độ của mạch nghĩ. Khổ đầu : bất giác, khổ hai : tri giác, khổ ba : suy ngẫm. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. Rõ ràng, từ khổ một đến khổ ba, thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau :
Thế
đấy, cấu trúc của thi phẩm này, bề ngoài, có vẻ “dính”, nhưng bề sâu, đâu phải
là thiếu rành mạch. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng, qua phân tích trên
đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa, vẫn
là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi
Bập bênh
Khúc
Hồng Thiện
Bập
bênh ngày bập bênh đêm
Chang chang bên trắng êm đềm bên đen
Chang chang bên trắng êm đềm bên đen
Bập
bênh cả những ngọn đèn
Phía leo lét đỏ phía lèn lẹt xanh
Phía nào cũng rặt mong manh
Nửa quỳ sát đất nửa thành mây cao
Phía leo lét đỏ phía lèn lẹt xanh
Phía nào cũng rặt mong manh
Nửa quỳ sát đất nửa thành mây cao
Phía
im lặng phía xôn xao
Quê đủng đỉnh phố ào ào bán mua
Một thôi thanh thản chuông chùa
Lại vang vang tiếng mõ khua trống rền
Quê đủng đỉnh phố ào ào bán mua
Một thôi thanh thản chuông chùa
Lại vang vang tiếng mõ khua trống rền
Sống
cõi tục thác cõi tiên
Ở lành thì sẽ gặp hiền, chắc không
Bóng cò cặm cụi dưới đồng
Diều hâu đã lượn mấy vòng trời khơi
Ở lành thì sẽ gặp hiền, chắc không
Bóng cò cặm cụi dưới đồng
Diều hâu đã lượn mấy vòng trời khơi
Bập
bênh à bập bênh ơi
Buồn vui thì vẫn một đời kập kênh.
Buồn vui thì vẫn một đời kập kênh.
Theo
Tạp chí Văn nghệ quân đội số 708 - đầu tháng 3/2010)
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ, nương hình bóng cha
Cây cau cũ, giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần… rồi mẹ hãy dần dần đi…
Những câu thơ giản dị và xúc động ấy, Trúc Thông viết cho
ai? Trước hết, như lời anh đề tựa ở bài thơ Bờ sông vẫn gió (Chị em con kính
dâng hương hồn mẹ). Địa chỉ anh gửi đến đầu tiên là mẹ, dẫu bây giờ người
đã ở cõi hư vô. Anh viết cho mình, cho chị gái và cho tất cả những người thân
của anh trong niềm thương nhớ vô biên người mẹ tảo tần đã khuất. Bên bờ sông
hiu hiu gió, anh cầu xin mẹ thêm một lần trở lại; trở lại với hình dáng đường
nét khuôn mặt vô cùng thân thuộc của người, đặng cho nỗi nhớ của các con vợi
bớt đôi phần. Ai đã mồ côi mẹ và ai vẫn còn hạnh phúc có mẹ trên đời hẳn cũng
đều rưng rưng khi đọc bài thơ này. Nỗi niềm riêng đã lan tỏa, truyền cảm thành
nỗi niềm chung của nhiều người. Thơ, như ai từng xác nhận trong trường hợp này
là tiếng nói của trái tim đã đến được với không ít trái tim khác.
Một giọng thơ khác, trẻ hơn, chưa hẳn là hiện đại nhưng
đã có điểm khác với truyền thống:
Bóng mẹ ngồi khâu đêm
sợi chỉ xe những đường gân xanh
lặng lẽ đổ khuôn bóng tối
bóng bà ngoại lưng còng ngõ nắng
tóc cước rưng rưng
quang gánh rẽ về thiên cổ.
Những câu thơ nhiều hoài niệm ấy, Trần Kim Hoa hẳn không
muốn chỉ viết riêng cho mình bởi sau tình yêu thương ruột rà máu mủ dành cho mẹ
và bà, nữ nhà thơ muốn tìm sự chia sẻ đồng cảm ở bao tâm hồn khác.
Đấy là ước muốn tự nhiên, là khao khát của không ít người
làm thơ - một thể loại văn học trữ tình đã xuất hiện hàng nghìn năm nay. Những
câu thơ, bài thơ vượt thời gian, nằm lòng nhân loại bao thế kỷ chính vì nó đã
giải mã được chiều sâu tâm hồn con người bằng những diễn đạt tinh tế và khúc
triết nhất. Sự sáng tạo không thể không bắt đầu bằng sự phát hiện cuộc sống và
nó được khai triển bằng những lối đi nghệ thuật riêng mang dấu ấn của cá thể
nhưng không xa lạ với dân tộc và nhân loại. Nói gì thì nói, đặc trưng của ngôn
ngữ thơ vẫn là biểu đạt tình cảm. Thơ vẫn dành để thông qua hình tượng ngôn ngữ
người cầm bút gửi gắm cái tình, cái chí của mình trong đó. Điều này cũng xưa cổ
như thể loại văn học này vậy. Thơ hiện nay, lắm khi ta tưởng tác giả nghĩ nhiều
hơn cảm, nhưng ngẫm kỹ thì cái nghĩ đó không thể không mang rung động của người
sáng tác. Ngay đến một câu nói cũng bị trạng thái tình cảm chi phối huống hồ là
thơ. Thơ vần, thơ không vần, thơ văn xuôi, thơ truyền thống hay thơ hiện đại
cũng đều không vượt ra khỏi quy luật của cảm xúc, sự thăng hoa xuất thần của
tâm hồn là cơ hội để người sáng tác tìm gặp được những ý thơ, tứ thơ, câu thơ,
bài thơ hay. Sự thăng hoa có thể đến bất chợt khi nhà thơ chưa ngồi trước bàn
phím hay cầm bút nhưng nó cũng có thể xuất hiện trong quá trình sáng tạo của
họ. Đấy là ánh chớp của đam mê, là bùng nổ của mắt bão, là trào vọt của nham
thạch, là tràn dâng của đỉnh lũ. Có nhà thơ tâm sự với tôi, khi anh viết xong
trường ca thì người cứ rỗng cả ra, tất cả tinh lực đều dồn vào từng câu thơ,
từng con chữ. Tôi nói, ông có thể chết vì thơ. Nhà thơ thở dài, không sợ bằng
thơ bị chết yểu, thơ chết trước mình.
Người ta đang nói nhiều tới sự cách tân trong thơ. Cách
tân! Muốn thơ có mặt trong cuộc sống đương đại và cả mai sau nữa, không còn con
đường nào khác phải cách tân. Nhưng theo tôi, sự cách tân không phải là đổi
trắng thay đen, đánh tráo khái niệm, tôn vinh thác loạn, đưa hủ bại lên ngôi.
Sự cách tân không phải là đốt quá khứ trong nỗi ngông cuồng được trở thành sao
chói lọi trên bầu trời thi ca. Cách tân xa lạ với tùy tiện, cẩu thả, rối mù, hũ
nút, đánh đố người đọc. Cử nhân, thạc sĩ cho đến tiến sĩ văn học cũng chẳng cảm
nhận nổi, không hiểu được tác giả nói gì trong bài thơ của họ. Chớ lầm tưởng
rằng thơ hiện đại, thơ mới phải là thơ khó hiểu; thơ dễ hiểu thuộc về kiểu thơ
cũ, thơ truyền thống. Thực ra khó hiểu hay dễ hiểu không phải là tiêu chí của
thơ, mà thơ hay chính là sự lay động người đọc ở cảm xúc mạnh, ở tính đa nghĩa
của hình tượng, ở sự hợp lý đắc địa của ngôn từ. Giá trị của thơ nằm ở việc
phát hiện vấn đề, tìm và dựng tứ độc đáo, ở tính sáng tạo trong thiết lập cấu
trúc bài, chọn lựa hình tượng khác lạ, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ nhuần nhuyễn đổi
mới.
Thơ muôn đời mang tính kế thừa. Hệ quả của những dè bỉu,
mỉa mai, chà đạp, đoạn tuyệt truyền thống là sự giả tạo, hóng hớt, hợm hĩnh,
lai căng, mất gốc và một kết cục đuối sức, hụt hơi, èo uột, tự chết là khó
tránh khỏi. Trong những năm qua, có mấy người làm thơ cuồng chữ được vài
ông bầu đưa lên sân khấu văn chương, qua kỹ nghệ soi chiếu của ánh sáng lăng xê
và khuếch đại của âm thanh tâng bốc bỗng chốc biến thành thiên tài dân tộc,
người đảm nhận sứ mệnh cứu nền thi ca đất nước đang lụn bại(!). Kết quả ra sao,
phần lớn tan nát trong thời gian rất ngắn. Những cái được tôn sùng vội vã bị
chết yểu giữa thanh thiên bạch nhật. Thơ sẽ tự chết khi không bám được vào cuộc
sống đời thường. Đó chính là bài học vỡ lòng cho những người làm thơ.
Giấc mơ vòng nguyệt quế không có tội gì nhưng xin đừng
ngộ nhận về tài năng. Ngọn đuốc soi đường khác hoàn toàn với mồi lửa của kẻ đốt
đền. Thơ, là sứ giả của tình yêu, trong cuộc chạy tiếp sức của nhân loại, nó
bồi đắp tiếp tế năng lượng cho tâm hồn, không chỉ cho một người mà cho nhiều
người. Vì thế, thơ cần sự sáng tạo lại ngoài tác giả, để được truyền cảm, nhân
lên trong những cảm thông, bênh vực, nâng đỡ không ngừng. Thơ gắn với đời,
trong những lấm láp ruộng đồng, trong mặn mòi biển cả, trong khuất lấp nẻo
rừng, trong xô bồ phố thị với từng hớn hở hay đớn đau của cuộc sống, bắt đầu từ
một đến mười, mười đến một trăm rồi nghìn, vạn, triệu.
Thơ hay là thơ lan truyền theo cấp số nhân và nó sẽ trở
thành tài sản chung của nhiều người. Tại sao những bài thơ hay lại được nhiều
người biết, nhiều người nhớ, nhiều người thuộc. Bí quyết của nó là gì? Phải
chăng, soi vào đó người ta nhận ra gương mặt tâm hồn của mình. Lặng lẽ, chậm
rãi đọc lại những bài thơ hay của người khác ta thấy nó chính là ta đang thanh
lọc tâm hồn. Người làm thơ vì danh, tôi nghĩ ít thôi, làm thơ để thanh lọc tâm
hồn mới là phổ biến. Đọc thơ, yêu thơ cũng để biết sống trầm tĩnh sâu sắc hơn.
Thơ không phải là bài giáo huấn luân lý một cách thô thiển nhưng thơ mang vẻ
đẹp thuần khiết của tình cảm và cả nhân cách con người, do vậy không lý gì nó
không góp phần chống lại sự băng hoại xuống cấp của đạo đức phẩm chất con
người.
Chính vì thế, nên dù phải chống đỡ với sự chiếm lấn của
bao nhiêu phương tiện nghe nhìn khác của thời kỹ trị và đang ở trong một tâm
thế ít thuận lợi, thơ vẫn không chết như ai đó đã kêu lên. Thơ hay vẫn lặng lẽ
đi vào lòng người như những mạch ngầm dịu mát làm lành lại bao vết thương đời,
trong khổ đau mất mát lắm khi người ta vẫn còn phải vịn vào câu thơ để đứng
dậy. Nhiều cuộc tranh luận sóng gió về thơ, đó là gì nếu không phải niềm yêu và
lòng mong mỏi cho thơ hay lên. Ngày thơ Việt Nam đã trở thành một lễ hội văn hóa
sang trọng có sự tham gia đông đảo của công chúng ở mọi miền đất nước.
Thơ
còn cần cho cuộc sống biết bao. Với công chúng, người cầm bút đừng bao giờ làm
cho thơ xa lạ hay thấp hèn đi. Muôn đời, thơ vẫn là nhịp cầu nối tâm hồn này
đến tâm hồn khác. Sứ mệnh của thơ là thế, chẳng bao giờ đổi thay.
Nguồn: QĐND

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét