Những bài
thơ hay
NGUYỄN
DUY
NGHE TẮC
KÈ KÊU TRONG THÀNH PHỐ
Tắc kè
Tắc kè..tôi giật mình
Nghe
Trên cành me
Góc đường Công Lý cũ
Con tắc kè
Sao mày ở đây?
Sáng ra nhìn soi mói mỗi cành cây
Chả thấy con tắc kè đâu cả
Khi chùm đèn thuỷ ngân xanh lên
trong vòm lá
Tắc kè kêu như tiếng vọng về
Chợt hiện
về thăm thẳm núi non kia
Dưới lá là hầm, là tăng, là võng
Là cơn sốt rét rừng vàng bủng
Là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu,
đèo trơn…
Những
đoàn quân đi xuyên Trường Sơn
Ngủ ôm súng suốt cả thời tuổi trẻ
Đêm trăn trở đố nhau: Bao giờ về
thành phố?
Con tắc kè nghe, nhanh nhẩu nói:
Sắp về!
Sắp về
Sắp về…
Người bạn tôi rung võng cười
khoái trá
Ấy là lúc những cánh rừng trút lá
Mùa khô năm một ngàn chín trăm
bảy tư
Ăn tết rừng xong
Từ giã chú tắc kè
Chúng tôi xuôi – ào ào cơn lũ đổ
Các binh đoàn tràn vào thành phố
Đang mùa thay lá những hàng me
Lá me
vàng lăn tăn trải thảm phố hè
Chồi xanh lăn tăn nới đầu cành
run rẩy
Cơn gió thoảng chút hương rừng
đâu đấy
Hạt mưa đầu mùa trong suốt giữa lòng
tay
Người bạn
tôi không về tới nơi này
Anh gục ngã bên kia cầu xa lộ
Anh nằm lại trước cửa vào thành
phố
Giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc
chiến tranh
Đồng đội
bao người không “về tới” như anh
Nằm lại Cầu Bông, Đồng Dù và xa
nữa…
Tất cả họ, suốt một thời máu lửa
Đều ước ao thật giản dị:
Sắp về!
Qua hai
mùa thay lá những hàng me
Cái tế hòa bình thứ ba đã tới
Chao ôi nhớ tết rừng không hương
khói
Đốt nhang lên
Chợt hiện tiếng tắc kè
Tôi giật
mình
Nghe
Có ai nói ở cành me:
Sắp về!...
HỮU THỈNH
BỮA CƠM
CHIỀU TRONG DINH ĐỘC LẬP
Cơm dã
chiến nấu bằng bếp điện
Rau muống xanh như hái tự ao nhà
Trời còn đầy ắp hoa và pháo
Nhìn nhau chưa vội mở vung ra.
Màu xanh
- sân cỏ xanh mải miết
Quây quần đồng đội đến vui chung
Hàng cây so đũa cùng ta đó
Ăn bữa cơm ở đích cuối cùng.
Khách
thường: Thương mấy anh nhà báo
Theo tăng băng dốc mấy mươi ngày
Sáng chiếm núi Bông, chiều cửa
Thuận
Vượt đèo Phước Tượng buổi nhiều
mây.
Tăng vẫn
dàn theo đội hình chiến đấu
Xích còn vương đất đỏ Phan Rang
Vừa mới vào mâm, anh nuôi bận
Chia thêm tổng - thống - ngụy -
đầu - hàng.
Kìa gắp
đi anh, ai nấy giục
Có gắp chi đâu, mải ngắm trời
Tự do xanh quá, mênh mông quá
Vượt mấy ngàn bom mới tới nơi
Bỏ lại
đằng sau bao trận đánh
Kịp vào thành phố sáng tên Người
Độc lập theo tăng vào cổng chính
Cờ treo trên đỉnh nước non ơi!
Ta trẻ
như cờ ta trẻ mãi
Ta reo trời đất cũng reo cùng
Ta no cười nói, say đôi mắt
Bát canh ngày hẹn cũng mênh mông.
NGUYỄN KHOA
ĐIỀM
NGÀY VUI
Tôi
qua dòng sông yên tĩnh
Con
cầu như tiếng ngân vui
Tiếng
ve ấm bừng trí nhớ
Sen
lên thơm bốn mặt thành
Ngày
vui của đời ta đó
Gió
thổi đường dài bâng khuâng...
Đất
nước ba mươi năm
Trên
vai sắt thép
Đi
suốt cuộc trường chinh
Đi
qua tuổi trẻ
Đi
qua những cuộc tiễn đưa lặng lẽ, không hoa
Gầm
trong hai mươi mốt phát đại bác rung trời
Chào
chiến thắng!
Đất
nước của tôi
Tôi
muốn quỳ trước chân Người
Đặt
môi mình lên trên nguồn thẳm
Tung
tăng hoài dưới mỗi gốc lúa làng quê
Hát
khúc đồng dao về độc lập, tự do
Mẹ
ơi, con trở lại nhà
Sau
lưng con cánh cửa chiều khép nhẹ
Mẹ
lại ngồi trước bếp lửa chiều lặng lẽ
Nấu
cơm cho chúng con ăn
Ôi
những hạt gạo nổi chìm ba mươi năm
Đời
mẹ tảo tần cay đắng
Từng
nuôi chúng con làm nên chiến thắng
Bây
giờ chưa đủ chúng con no
Nhưng
căn nhà mình lộng gió tự do
Lộng
ánh sáng trước tháng ngày sắp đến
Mẹ
thân yêu, với tấm lòng trọn vẹn
Mẹ
vẫn khơi bếp lửa hồng như cổ tích ca dao
Và
những gì nồng thắm của mai sau...
NGÔ THẾ
OANH
KHOẢNG LẶNG
YÊN THÁNG TƯ
Tôi chưa
bao giờ gặp đâu một bầu trời như thế
Bầu trời
trong cao rộng khác thường
Những
hàng me vừa mùa thay lá
Sắc non
xanh tuôn sáng những bờ đường
Sau cơn
mưa thành phố như gương
Lấp lánh
những tường nhà khuôn mặt
Những lá
cờ trên những ô cửa sổ đỏ tươi
Những lá
cờ... tôi bỗng rưng nước mắt...
Mặt trời
thật giản dị trên cao
Quân phục
đẫm mồ hôi và bụi đất
Chiếc bi
đông chuyền nhau cơn khát
Một mùa
xuân thăm thẳm trên đầu
Cụm mây
trắng tinh di động về đâu
Đồng đội
của tôi... Đồng đội của tôi...
Nói gì
được giữa ngày toàn thắng
Bỗng thấm
hết hơi ấm bàn tay bạn
Đất rượi
mát dưới chân không thốt nên lời
Khoảnh
khắc thành phố dường lặng yên
Lặng yên
những đám mây
Lặng yên
khoảng trời
Lặng yên
vòm cây
Lặng yên
những căn nhà
Lặng yên
những lá cờ trong nắng
Lặng yên
nét cười thẳm sâu mắt bạn
Khoảnh
khắc thành phố như mặt biển
Rồi tất
cả vụt trào lên cuồn cuộn thủy triều.
NGUYỄN ĐỨC
MẬU
NGÀY 30 THÁNG 4
Áo còn vương bụi đỏ Trường Sơn
Sư đoàn vào thành phố
Giữa chói ngợp bao màu sắc lạ
Mũ lá sen xanh một khoảng rừng
Vào thành phố: những người thắng trận
Một mảng trời bén lửa sau lưng
Khuôn mặt đường xa
Chưa xoá dấu nhọc nhằn
Ngày 30 tháng 4
Sáng chúng tôi dồn đạn vào nòng
Chiều xanh trời ngẩng mặt đón trời xanh
Hoà bình và chiến tranh
Cách nhau bằng nấc đạn
Súng đã khoá an toàn
Sân bay giặc bùng lên luồng khói xám
Ngày thành phố trằn vai cơn bão lớn
Ngày pháo hoa đan kín vòm trời
Ngày đạn bắn chuyển rung mặt đất
Ngày súng cầm trên tay thảnh thơi
Từ cánh hoa đào tới cánh hoa mai
Hai miền đất vẹn tròn sum họp
Đàn bầu hãy rung lên trong suốt
Câu nhớ, câu thương, câu đợi, cầu chờ
Giọt buồn tan ra
Giọt vui lắng lại
Dây đàn chăng vào trời cao bao la
Cho âm thanh sao rơi mặt đất
Triệu người nghe
Khúc hát bây giờ
Này rừng xanh màu áo chiến khu
Này quần đảo chuỗi cườm xinh biển cả
Vòm trời rộng bay nhiều mây trắng xoá
Những đàn chim không biết tự đâu về
Sư đoàn vào thành phố
Giữa chói ngợp bao màu sắc lạ
Mũ lá sen xanh một khoảng rừng
Vào thành phố: những người thắng trận
Một mảng trời bén lửa sau lưng
Khuôn mặt đường xa
Chưa xoá dấu nhọc nhằn
Ngày 30 tháng 4
Sáng chúng tôi dồn đạn vào nòng
Chiều xanh trời ngẩng mặt đón trời xanh
Hoà bình và chiến tranh
Cách nhau bằng nấc đạn
Súng đã khoá an toàn
Sân bay giặc bùng lên luồng khói xám
Ngày thành phố trằn vai cơn bão lớn
Ngày pháo hoa đan kín vòm trời
Ngày đạn bắn chuyển rung mặt đất
Ngày súng cầm trên tay thảnh thơi
Từ cánh hoa đào tới cánh hoa mai
Hai miền đất vẹn tròn sum họp
Đàn bầu hãy rung lên trong suốt
Câu nhớ, câu thương, câu đợi, cầu chờ
Giọt buồn tan ra
Giọt vui lắng lại
Dây đàn chăng vào trời cao bao la
Cho âm thanh sao rơi mặt đất
Triệu người nghe
Khúc hát bây giờ
Này rừng xanh màu áo chiến khu
Này quần đảo chuỗi cườm xinh biển cả
Vòm trời rộng bay nhiều mây trắng xoá
Những đàn chim không biết tự đâu về
Trăm giọng hót ngày hoà bình vui
lạ
Có phải chim từ nơi súng nổ bay ra
Tôi cứ nghĩ đàn chim ở tay người cầm súng
Trải tin vui suốt dải đất hai miền
Tôi cứ nghĩ đàn chim ở tay người cầm súng
Trải tin vui suốt dải đất hai miền
Trăng trên trời rơi xuống buổi
đoàn viên
Rơi xuống mái nhà chống Nam, vợ Bắc
Đây mặt đất mùa hè thay áo khác
Pháo hoa bay lên nước mắt, nụ cười
Tiếng trống vỗ như mở đầu, kết thúc
Hoà bình về
Cuộc chiến tranh qua
Hoà bình về
trên mái tóc người cha
Và tiếng khóc oa oa thơ bé
Người lửa cháy suốt thời trai trẻ
Kẻ chào đời tiếng súng đã lặng câm
Hai lứa tuổi cách nhau một nhịp cầu
Một cuộc hành quân nắng dãi mưa dầm...
Sư đoàn tôi vừa đi qua chiến tranh
Hoà bình đến trên bàn tay lắp đạn
Hái một trái sầu riêng đang độ chín
Cây sum sê dâng hết ngọt ngào
Chiến tranh có từ hồi gieo hạt
Ngày hoà bình
Trái chín nặng vòm cao
Vai áo anh còn vết máu bạn bè
Vai áo tôi khét nồng thuốc đạn
Xin đặt vòng hoa, thắp nén hương tưởng niệm
Có khoảng trời xanh dưới đất nâu
Môt vuông đất: kẻ nằm, người đứng
Nhưng hoà bình từ nay về ta
Đôi giày dã chiến, đôi dép cao su
Chúng tôi đi
Bước đồng bằng, bước biển
Bước núi đồi
Bước biên giới rừng xanh
Không đếm hết dấu chân dừng lại dọc đường
Thành dòng chữ gọi người đang sống
Chúng tôi đi tời ngày toàn thắng
Cánh tay người lính
Đã mọc thành cờ
Trời xanh sáng ngời
Gương mặt tự do
Rơi xuống mái nhà chống Nam, vợ Bắc
Đây mặt đất mùa hè thay áo khác
Pháo hoa bay lên nước mắt, nụ cười
Tiếng trống vỗ như mở đầu, kết thúc
Hoà bình về
Cuộc chiến tranh qua
Hoà bình về
trên mái tóc người cha
Và tiếng khóc oa oa thơ bé
Người lửa cháy suốt thời trai trẻ
Kẻ chào đời tiếng súng đã lặng câm
Hai lứa tuổi cách nhau một nhịp cầu
Một cuộc hành quân nắng dãi mưa dầm...
Sư đoàn tôi vừa đi qua chiến tranh
Hoà bình đến trên bàn tay lắp đạn
Hái một trái sầu riêng đang độ chín
Cây sum sê dâng hết ngọt ngào
Chiến tranh có từ hồi gieo hạt
Ngày hoà bình
Trái chín nặng vòm cao
Vai áo anh còn vết máu bạn bè
Vai áo tôi khét nồng thuốc đạn
Xin đặt vòng hoa, thắp nén hương tưởng niệm
Có khoảng trời xanh dưới đất nâu
Môt vuông đất: kẻ nằm, người đứng
Nhưng hoà bình từ nay về ta
Đôi giày dã chiến, đôi dép cao su
Chúng tôi đi
Bước đồng bằng, bước biển
Bước núi đồi
Bước biên giới rừng xanh
Không đếm hết dấu chân dừng lại dọc đường
Thành dòng chữ gọi người đang sống
Chúng tôi đi tời ngày toàn thắng
Cánh tay người lính
Đã mọc thành cờ
Trời xanh sáng ngời
Gương mặt tự do
Ngày 30 tháng 4
Tôi cùng anh chung phút giờ hồi tưởng
Mua bao thuốc Ru-bi mời bè bạn
Võng đung đưa
Nhà gác sáng đèn
Hạnh phúc lớn lao của đời người lính
Sau tháng năm xa phố, ở rừng.
Tôi cùng anh chung phút giờ hồi tưởng
Mua bao thuốc Ru-bi mời bè bạn
Võng đung đưa
Nhà gác sáng đèn
Hạnh phúc lớn lao của đời người lính
Sau tháng năm xa phố, ở rừng.

Ý NHI
NGƯỜI LÍNH
Trên con
đường từ mặt trận đến mặt trận
Người
lính đi qua một thành phố lớn.
Cái thành
phố khổng lồ, rối ren, náo động
bỗng hiện ra tĩnh lặng trước đời
anh
cây bên đường im phắc một màu
xanh
toa xe điện như trôi giữa lòng
đường phố hẹp
không có tiếng động cơ, xe lao di
vun vút
và bao người bước lặng dưới nhà
cao
họ khóc cười, chia biệt, đón chờ
nhau
anh cảm biết mọi điều qua ánh mắt
nhưng lời trò chuyện, anh không
nghe thấy được
anh không nghe tiếng khóc, tiếng
cười kia.
Ôi cuộc
đời thường nhật đã hiện ra
đúng như thể bao lần anh mong mỏi
nhưng đó là giấc mơ
đó là điều anh chưa thể tới
chưa bao giờ anh có đủ thời gian.
Trong
những lán che, trong những căn hầm
anh qua tháng ngày của mình trong
đạn lửa
trong cơn sốt, trong cái đói giày
vò, trong làn súng kẻ thù đe dọa
anh giữ nơi tay ngọn cờ xung trận
anh đã nghĩ đến cái chết
như bao lần anh nghĩ về cách sống.
Tiếng còi
tàu đã vang lên như tiếng còi báo động
anh quay nhìn thành phố
và thoáng qua gương mặt anh lời
từ biệt.
Ở cửa ga
người soát vé vừa giúi vào tay
anh mảnh bìa con vừa thét to giải thích
đó là chứng từ thanh toán của
chuyến đi
anh mỉm cười
hờ hững nhét mẩu vé tàu vào túi
ngực.
ĐẶNG HUY
GIANG
BÀI THƠ
VIẾT DƯỚI GỐC TRÀM
Cái bòng
nhỏ xinh nhún mình ngang cầu khỉ
Cỏ lác nằm nghiêng chỉ lối cửa
rừng
Đại đội trưởng nói: Trạm 21, quân
dừng
Mùi cá lóc nấu canh chua đã níu
chân tôi lại.
Ngang mặt
mấy con ong bay như bơi
Gió đi qua đầu rất vội
Nhựa tràm da diết mãi
Đôi chân màu xám đen.
Đêm thứ
bao nhiêu chúng tôi sống không đèn
Bàn chân đạp lên vùng nước chảy
Áo rừng tràm nhở nham vết cháy
Bom na pan, bom phá…chặn đầu
Mồng một chúng tôi bám lưng nhau
Mười sáu trăng lên đầu mũi súng
Mười bảy đồn thù nằm phơi như lá
rụng
Lại gặp mùi nhựa tràm trên cò
súng ngón tay.
Đêm thứ
bao nhiêu chúng tôi ở rừng này
Người lính thứ bao nhiêu dừng lại
Không bếp Hoàng Cầm không lán
trại
Đóng cọc vội vàng nhóm lửa nấu
cơm treo.
Lối quân
đi trăm họng súng giặc theo
Đêm vượt lội mắt cú mèo dòm ngó
Tiếng bom bi lốp đốp giội trên
đầu
Đất rừng tràm in thấu nỗi nông
sâu.
Trắng đêm
nhìn đồng trắng quặn đau
Cơm không muối, nước canh chan
mặn chát
Giữa vùng nước mênh mông mà khát
Chiến công chưa thoả dạ lính
trung đoàn
Phía
trước bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh!
LÊ THỦY
BÂY GIỜ
NGƯỜI ẤY Ở ĐÂU?
Bây giờ
người ấy ở đâu?
Mưa trắng một miền sông đục
Bâng quơ một mùa bình bát
Lá vàng rơi kín lối quen…
Những
cánh rừng bị bỏ quên
Những dấu võng bị bỏ quên
Những binh trạm bị bỏ quên
Ở nơi rừng tràm, rừng đước.
Biết
người có còn mơ ước
Một tình yêu như mặt trời
Ở ngay tháng ngày còn - mất
Tin rằng ta sẽ về thôi?
Mồ hôi và
máu đã rơi
Dọc con đường và ngọn lửa
Dọc trái tim không lần lữa
Đập qua muôn thác, muôn ghềnh…
Bây giờ
người ấy ở đâu?
Nhớ chăng cái đêm vượt lộ
Đêm quá giang trên sông nhỏ
Con thuyền như lá lặng trôi.
Bữa ấy
người nói những gì
Mà gió đêm đi đâu cả
Để rồi ta thương ta nhớ
Đôi bờ một dải sông khuya
Và dưới gốc còng già nua
Chị Hai có còn ở vậy?
Bên dòng sông Hậu xa xưa
Bến Đợi có còn ở đấy?
Bây giờ
người ấy ở đâu?
NGUYỄN
HÒA BÌNH
NGHĨA
TRANG TÌM BẠN
Bóng núi
đè ngang nghĩa trang chiều
Gió chừng thổn thức thổi xiêu
xiêu
Nén nhang bùng lửa như bật khóc
Mây khói cuốn những hồn phiêu
diêu.
Mây khói
cuộn bao hồn phiêu bạt
Gió say trận mạc ở đâu xa
Còn nhớ những lời xưa mẹ dặn
Có thương tuổi mẹ đã xế tà.
Sao cứ
một đi không trở lại
Nẻo rừng góc suối có chồn chân
Măng ngàn rau núi xanh xao xác
Có biết cơm thơm mẹ vẫn dành.
Sao cứ
một mang lời thề cũ
Quê hương em gái bạc tóc chờ
Bậu cửa vẹt mòn hồn Tô Thị
Thảng thốt ai buồn những đêm mơ.
Ôi những
linh hồn còn phiêu dạt
Xương thịt tan đi hóa đất trời
Xin được cho tôi người đồng đội
Đón hồn anh về với quê tôi.
Truyện
ngắn hay viết về chiến tranh và hậu chiến
Máy bay cất
cánh trong mưa. Tiếng càng bánh xe gấp lại có vẻ mạnh hơn bình thường dội
độ rung vào thân máy bay. Tôi tiếc là đã không nghe lời vợ. Đáng lý nên trả vé,
đừng theo chuyến này. Ngày xấu, giờ xấu, thời tiết xấu.
Máy bay
hẫng một cái như hụt bước. Tay vận comple ngồi
bên cạnh tôi mặt nhợt đi, mắt nhắm nghiền, cặp môi run run. Tôi bấu chặt các
ngón tay vào thành ghế. Con người tôi bé tí hin treo trên vực sâu đang càng lúc
càng sâu thẳm.
- Mây ngay
ngoài, các bác kìa! - Bà cụ ngồi ở ghế trong cùng, kề cửa sổ, thốt kêu lên.
Chiếc TU
104 già nua đã lấy được độ cao, bắt đầu bay bằng. Hàng chữ điện “Cài thắt lưng
an toàn” đã được tắt đi. Nhưng ngoài cửa sổ vẫn cuồn cuộn mây.
- Mây cận
quá, bác nhỉ, với tay ra là vớt được - Bà cụ nói - Y thể cây lá ngoài vườn
- Vậy mà
sao nhiều những người họ kháo là tàu bay trỗi cao được hơn mây bác nhỉ ?
- Chả biết
đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến thưa các bác ?
Không được
trả lời, bà cụ chẳng dám hỏi han gì thêm. Bà ngồi im, ôm chặt trong lòng một
chiếc làn mây. Hình vóc bé nhỏ, teo tóp của bà như chìm lấp vào thân ghế. Khi
cô tiếp viên đẩy xe đưa bữa điểm tâm đến, bà không muốn nhận khay đồ ăn. Bà bảo
cơm nước lạ kiểu chẳng đũa bát gì già chẳng quen, mấy lại đã ăn no bụng hồi sớm
rồi, mấy lại cũng thực tình là già chẳng có lắm tiền. Cô gái ân cần giải thích
để bà cụ yên tâm rằng giá của suất ăn miễn phí này đã được tính gộp trong tiền
vé.
- Thảo nào
hai lượt tàu bay những triệu bạc, - Bà cụ nói - Vậy mà lúc biếu già tấm vé các
chú không quân cùng đơn vị con trai già bảo là tốn có trăm ngàn. Các chú ấy cho
thì già có, chứ con tính ở nhà quê đừng nói một triệu với trăm ngàn, ngàn với
trăm cũng làm gì ra.
Bà cụ hạ
chiếc bàn gấp xuống song không bày bữa ăn lên đấy. Tất cả các thứ hộp thứ gói
trên khay bà dồn hết vào chiếc làn mây. Bà chẳng ăn chút gì. Lúc người ta mang
đồ uống đến, bà cũng chỉ xin một cốc nước lọc. Bà hỏi cô tiếp viên :
- Đã sắp
sông Bến Hải chưa con ?
- Dạ thưa,
- Cô gái nhìn đồng hồ đeo tay - Còn chừng dăm phút nữa ạ. Nhưng thưa cụ vì
chúng ta bay trên biển nên không ngang qua sông mà sẽ chỉ ngang qua vùng trời
vĩ tuyến 17.
- Lát qua
đấy con bật dùm già cái cửa tròn này con nhé, cho thoáng.
- Ấy chết,
thưa cụ, mở thế nào được ạ - Cô gái bật cười.
Ngoài cửa
sổ nắng loé lên, cánh máy bay lấp lánh, nhưng chỉ chốc lát. Trên rất cao này
trời vẫn cộm mây. Người tôi nôn nao như ngồi trên đu quay. Chưa chuyến nào thấy
mệt thế này. Có lẽ vì cơn bão đang hoành hành ở Miền Trung nên không trung đầy
rẫy ổ gà. Máy bay chòng chành, dồi lắc, bên thân và dưới sàn khe khẽ phát ra
những tiếng răng rắc như sắp rạn.
- Làm cái
gì vậy! Hả ! Cái bà già này !
Tôi giật
bắn mình. Tôi bị giằng khỏi giấc ngủ không phải vì tiếng quát, tay ngồi cạnh
tôi không quát to tiếng, chỉ nạt, nạt khẽ thôi, đủ nghe. Nhưng âm hưởng của nỗi
hoảng hốt và sự cục cằn trong giọng y như tát vào mặt người ta. Thận trọng, tôi
liếc nhìn. Khói thuốc và cặp vai to đùng của y che khuất cả bà cụ già cả ô cửa
sổ.
- Van
bác... - Bà cụ sợ sệt - Bác ơi, van bác... Chẳng là, bác ạ, bữa nay giỗ thằng
cả nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu
khuất...
Bà cụ ngồi,
im phắc, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc, nhăn nheo. Trên chiếc
bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm
trong lưng chiếc cốc thuỷ tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bằng
bàn tay, để dựng vào thành cốc.
Cô tiếp
viên đi vội tới. Cô dừng sững lại bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt
một lời, cô đứng yên, lặng nhìn.
Máy bay
vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn thờ bé
bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái khung ảnh.
Tấm ảnh được cắt ra từ một mảnh báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh
còn rất trẻ.
Khói nhang
nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh của khoang
máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm toả hương trời thơm ngát. Ngoài cửa sổ
đại dương khí quyển ngời sáng. Tổ Quốc tôi trên trời cao.
Cây bằng
lăng bông tím
Truyện ngắn
của Phạm Trung Khâu
Con đê nhỏ ngoằn ngoèo chạy ra
đường cái nhuộm vàng thẩm nắng chiều. Cả gia đình anh Gàn trở về nhà. Anh đi
trước, mái tóc hớt ngắn, dựng ngược lên như bụi gốc rạ cứng bị lưỡi hái bén xén
ngang. Vai phải hơi gù, đang vác cây cuốc. Vai trái một con nhồng đen thảnh
thơi đậu. Chị đi sau, tóc búi kiểu củ tỏi lăn lanh chanh trên cái áo bà ba bạc
phếch. Rồi tới thằng Tí, thằng Sửu, thằng Dần, thằng Mẹo, thằng Thìn, cuối cùng
là con Ty. Riêng đặc biệt thằng Tí, nó đôi cái kết đỏ chét, đỏ đến khó coi,
cũng tại cái kết nầy khiến ba nó bị nạn. Thử so sánh nếu anh được xem như một
cạnh thẳng góc với con đường thì con Ty chính là cái góc nhọn của một hình tam
giác. Đi theo đội hình trật tự từ lớn đến nhỏ như thế nhưng trông họ thật nhàn
nhã.
Thỉnh
thoảng có những phá lệ. Thường nhất là con nhồng, đôi lúc cao hứng xà xuống một
cọng cỏ lát, mổ nhanh một con châu chấu xanh rồi ngướng ngướng chiếc cổ đen
nuốt mồi. Lúc đó tất cả dừng lại, anh lội xuống bắt nó, đặt lên vai trái và trở
về vị trí đầu của mình, cả toán lại di chuyển. Lúc đi, anh lấy bàn tay vỗ vỗ
trên đầu con nhồng căn dặn:
- Cái ăn là
cái nhục. Ráng mà chừa.
Con
nhồng phồng cổ trả lời bằng tiếng người, trọ trẹ:
- Dạ dạ. Dạ
dạ.
Đôi khi thì
thằng Thìn, trong chỗ thứ sáu tách khỏi hàng, nhẩy cẩng xuống ruộng chộp vội
con cào cào vồ xám tro trên bụi cỏ đuôi chồn rồi vội vã chạy về, vừa đi vừa đưa
con vật lên sát mắt, ngắm nghía cái kheo chân bén ngót như lưỡi cưa sắt mới mài
của nó. Cuối cùng là cô gái độc nhất của anh, cô đong đưa nhánh muồng vàng tươi
trong ánh nắng, nhiều lần cô vờn tay đùa với con bướm đỏ đang bay la đà theo
nhành hoa.
Tôi gặp anh
ngay ngã ba đường, thấy tôi anh chấp hai tay trước ngực, cúi nhẹ người xuống
một chút rồi cất tiếng chào – Vô ý lúc đó tôi lại đưa mắt nhìn cườm tay anh để
xem vết thương bị đánh lần trước đã lành chưa – Tiếp theo tới chị, rồi sáu đứa
con anh rập như thế. Hễ cứ gặp anh lại gặp cái khuôn phép cũ kỹ đó nên tôi vả
lả cho qua chuyện:
- Anh và
chị đi ruộng về.
- Bẩm!
Không anh, gia đình tôi đi tưới rẫy bắp.
- Cả gia
đình tưới. – Tôi hỏi, rồi quay sang bẹo má cô gái út hỏi tiếp.
- Bé tí vầy
tưới sau nổi.
Anh
trả lời:
- Đi cũng
có trật tự của nó. Ngồi cũng có trật tự của nó. Làm việc cũng có trật tự của
nó. Như thế mới ổn anh à. Nhỏ thì tưới thùng nhỏ, lớn tưới thùng lớn.
- Vậy anh
sắm bảy cỡ thùng. – Tôi hỏi đố chơi.
- Bẩm anh!
Đúng y như vậy, bảy cái. Cái lớn nhất là của tôi. Cái nhỏ nhất dành cho con Ty.
Tôi
vui vẻ vỗ vỗ vào đầu con Tỵ.
- Tôi, tôi
xin nể cái trật tự của anh.
Anh
vẫn nghiêm trang như trước:
- Trật tự
là đạo đức.
Tôi cảm
thấy rõ mình bị ngố trước câu trả lời của anh, lúng túng chẳng biết xử lý ra
sao. Lúc đó anh lại gỡ rối cho tôi. Anh quay sang vai trái nói hơi to:
- Nhồng
chào bác đi.
Con nhồng
nghiêng nghiêng đầu, nháy nháy cặp mắt viền vàng đen lay láy nhìn tôi. Anh
giục.
- Chào đi.
Con
nhồng nghe lời anh phồng cổ cất tiếng:
- Chó đẻ.
Chó đẻ.
Tôi bị ngố
lần hai, nhưng lại tức cười, tức đến không nhịn được, tôi cười xoà xoà. Không
phải cười vì lối chào du côn của con nhồng mà vì khi ấy anh cúi xuống để lộ
trên mái đầu một vết trắng hếu – Vết thương bị đánh do sự nhầm lẫn thật tức
cười, tôi sẽ kể ở đoạn sau – Còn anh nhìn tôi ái ngại thật sự, anh nói:
- Tôi xin
lỗi anh, nó là con vật. Tôi sẽ dạy nó lại. Hình như nó thích nghe mấy đứa trẻ
nghịch ngợm hơn tôi. – Nói xong, anh lấy bàn tay vỗ vỗ đầu con nhồng căn dặn:
- Cái nói
là cái nhục. Ráng mà chừa.
Xong từng
người chấp tay chào tôi. Họ về nhà. Cô gái út vẫn làm cái góc của hình tam
giác.
Đó là hình
ảnh cuối cùng giữa tôi và anh. Riêng gia đình tôi suýt tí nữa thì mất anh, mất
con người gàn gàn như thế. Chỉ vì cây bằng lăng bông tím, cái cây mà tôi dùng
làm tựa cho chuyện kể này.
Cái mương
thẳng, nhỏ làm ranh đất giữa hai bên. Tôi và anh Gàn là bộ đội phục viên. Đều
về quê vợ và vô tình hai người lại ở kế nhau. Mỗi hộ không quá một công đất,
riêng anh Gàn còn có riêng thêm nửa công rẫy ở xa nhà. Hai bên đều trồng lơ thơ
mấy cây chuối, vài bụi xả, một khóm rau xanh, dăm cây ớt để dùng lặt vặt hằng
ngày. Trong vườn chỉ có cây bằng lăng được coi là cổ thụ. Gốc nó đến một người
ôm. Cây cao độ ba thước. Phía trên không biết bị ai chặt cụt. Ngay vết thương
mọc ra vô số những nhánh to, dựng thành một tán hình dù tròn và rộng. Cây bằng
lăng tuổi ít cũng cả trăm, đến giờ dân ở đây chẳng ai biết nó mọc tự lúc nào.
Do cái thế
đứng không đàng hoàng của nó mới sinh lắm chuyện. Nếu công nhận quyền sở hữu
thì gốc nó mọc bên phần đất của tôi, nhưng ác thay hai phần ba thân mình nó lại
trườn qua, chiếm phân nửa cái sân và trùm cả bến nước trước nhà anh Gàn.
Tôi đi làm
xa, vài tuần, đôi tháng, có lúc cả năm trời mới trở về nhà. Kế bên, nhưng trước
chẳng biết nhau. Tôi lại ít rượu nên không có dịp thù tạc la cà với anh, chỉ có
vài lần uống trà suông.
Riêng vợ,
mấy đứa con tôi với gia đình anh, bao năm qua vẫn một mực hoà nhã. Còn cây bằng
lăng nó chẳng cho quyền lợi kinh tế thiết thực gì giữa hai hộ. Mỗi năm chỉ vào
tháng ra hoa nó mới có ít nhiều công dụng. Từng chùm hoa lớn tua tủa trương
những cánh hơi to như hàng triệu đồng tiền nho nhỏ màu tím rịm, làm mát cả
khoảng trời. Vào lúc đó những đứa con tôi, những đứa con anh Gàn, túm tum dưới
nó thảy đào lỗ, đánh thia lia, đôi khi chúng ngồi cả dọc trên bờ lẳng lặng ngắm
những cánh hoa rụng đầy mặt sông, đang bập bềnh, bập bềnh trôi theo dòng nước.
Dịp này mỗi
chiều anh Gàn bảo vợ dọn cơm trên sân nước, dưới tán bằng lăng, các con ăn, còn
anh uống vài ba ly rượu đế.
Cách sống
qua hành động hơi dị biệt, cách lý sự gàn gàn như thế, cả làng cho là gàn, nên
gọi thành danh. Vợ anh lúc đầu hơi buồn lòng vì từ “Chị Gàn” nghe nó không được
đứng đắn. Chị chịu đựng, chịu đựng giờ thì quen.
Có một lần
tôi về nhà, đang chui qua bụi chuối xiêm có những lá thật lớn, chợt loáng
thoáng nghe tiếng vợ tôi cãi lẩy với anh Gàn. Sự kiện nầy làm sao xảy ra được
vì lúc nào tôi cũng căn dặn vợ, tôi thường đi vắng, ở nhà với mấy đứa con nhỏ
nhờ quí hàng xóm láng giềng, sẽ có lúc nhờ nhau từng hòn lửa, từng trái ớt.
Lúc này,
thấy sự có mặt của mình sẽ gây khó xử cho đôi bên. Nên tôi lẳng lặng mở cửa sau
lén lẽn vào buồng nhà mình nằm.
Tiếng
vợ tôi:
- Thật tình
mà nói, anh thấy có bao giờ gia đình tôi, gia đình anh nhỏ nhặt bủn xỉn với
nhau đâu. Xin anh và chị nghĩ kỹ lại. Từ lâu tôi cũng muốn có một chiếc xuồng
để đi đây đi đó hoặc cho mấy đứa nhỏ nó giăng câu, thả lưới kiếm mấy con hủng
hỉnh qua ngày. Tụi tôi mới tính đốn, vả lại nếu để thì nó che khuất cả cái nhà
anh thôi.
Anh
Gàn nhỏ nhẹ:
- Bẩm chị,
cây cối mọc cũng có trật tự của nó. Nó muốn đứng đâu thì đứng, tuỳ nơi tuỳ chỗ
nó chọn, không ai ép nó được. Cây bằng lăng mọc ở đây lâu lắm rồi. Nó biết phận
chịu lép ép sát mé sông, nhưng vẫn xum xuê cành lá. Như vậy chỗ này thích hợp
với nó. Thế chị đòi đốn. Tôi thấy việc đó không phải đối với nó. Vợ chồng tôi
xin chị. Thịt bằng lăng cũng chẳng chắt chít gì.
- Anh chị
nói thế cũng phải, nhưng thiệt tình chúng tôi rất cần chiếc xuồng để làm chân.
- Bẩm chị,
đốn cây cũng có trật tự của nó. Tôi biết chị đã quyết nên hồi hôm tôi đã bàn
với vợ tôi. Thôi thì, chị cứ lấy chiếc xuồng của tôi mà xài. Còn cây bằng lăng
chị cứ để nó sống. Tôi thề đây không phải là sự đổi chác.
Vợ
tôi trả lời:
- Không đâu
anh, tôi cũng thề có đất trời, tôi nào có bắt nhặt bắt thưa gì nhau để nhận
chiếc xuồng kỳ cục vậy. Anh chị nghĩ quấy quá cho tôi rồi.
- Bẩm! Vợ
chồng tôi biết điều đó rõ lắm. Nhưng nếu chị không nhận chiếc xuồng mà quyết
đốn thì vợ chồng tôi cũng quyết bảo vệ đến cùng.
- Như vậy,
anh chị không cho tôi đốn cây của tôi.
- Bẩm! Chị
nói vậy, tôi xin trả lời, gốc nó mọc bên đất chị nhưng lá và hoa nó lại chiếm
khoảng không bên tôi. Nếu chị đốn gốc, làm sao lá và hoa của phần bên tôi sống
được. Xin chị hiểu cho.
- Rõ ra anh
lý sự gàn. Cây gốc đâu thì thuộc về đó. – Vợ tôi tính vốn hiền hoà nói được câu
như thế, tôi biết đã là giận lắm. Anh Gàn vẫn nhỏ nhẹ.
- Bẩm! Xin
chị để nó sống. Nhưng thôi chị cứ lấy chiếc xuồng của vợ chồng tôi mà xài tạm.
Còn chuyện đốn nó, chị thư thả đợi anh về cùng bàn. Nhưng tôi chắc rằng anh
cũng sẽ đồng ý với tôi chị ạ.
Nằm trong
buồng nghe hất câu chuyện, sợ còn dây dưa thêm nữa, tôi bảo đứa con gái đầu
lòng gọi vợ tôi vào nhà. Cả năm nay chúng tôi dành dụm tiền định mua một chiếc
xuồng con. Nhưng tiền cứ như nước lớn ròng ở cái xẻo nhỏ trước nhà, thấy đó mất
đó, mãi cho đến giờ vẫn không đủ. Vợ tôi bàn đốn cây bằng lăng đóng tạm. Tôi
chưa có ý kiến nhưng chắc rằng việc đốn cây của mình thì có rắc rối gì. Nhưng
sự thể diễn ra như thế. Rõ ràng lý sự của anh Gàn thật gàn, gàn không chịu
được. Tôi không hiểu giá trị sự sống cây bằng lăng như thế nào mà anh nhất
quyết đòi đổi chiếc xuồng để cho nó sống. Nhưng tôi lại muốn đồng ý với anh vì
một điều duy nhất là tôi sợ sự rạn nứt giữa hai gia đình nghèo khó trong một
cái xóm quá hẻo lánh.
Tôi nhỏ nhẹ
thuyết phục vợ tôi, nếu thêm cái xuồng cũng tiện vì có thêm cái đi, cái ăn
nhưng lại cực cho bầy trẻ vả lại nhà còn một đứa không biết lội. Nên thôi, đừng
đốn nó, việc nầy lại tránh được sự phiền giận giữa đôi bên. Vợ tôi tấm tức, hồi
lâu cũng nguôi ngoai dần. Sau bảo tôi qua thăm anh Gàn luôn thể cho biết ý định
mới nầy.
Tôi đến.
Anh chuẩn bị ăn cơm chiều. Gia đình ngồi vòng quanh cũng theo thứ tự lớn nhỏ.
Trên mâm, tám cái chén đang vây tròn bốn món ăn, một dĩa cà nâu nướng, một bát
canh ngót nấu không, một tô cá lòng tong kho khô, một dĩa rau muống luộc. Thấy
tôi ánh mắt chị lo ngại nhìn anh. Tôi biết chị đang hỏi anh phải xử sự làm sao
với lý do là các món ăn quá ít chẳng có gì mời khách, chứ không phải việc rắc
rối buổi sáng. Anh bình tĩnh như thường lệ, chấp hai tay xá nhẹ, cất tiếng.
- Bẩm, chào
anh!
Cả
nhà đang ở tư thế cầm đũa cũng bỏ xuống tuần tự chào tôi.
Cái tính
toán ở nhà lúc sáng giờ lại sai. Tôi định đến trong lúc gia đình dùng bữa. Tôi
qua và tự nhiên xà ngay xuống ngồi với anh rồi móc chai rượu đem theo trong
lưng ra, hai đứa cùng uống, cùng tâm tình cho cả nhà nghe, để tạo lại không khí
hoà thuận xưa cũ. Tôi đã làm như thế. Chọn chỗ ngồi gần cô gái út, vả lả móc
chai rượu ra nhưng không ngờ chị cùng sáu đứa con nhất loạt đứng lên nhìn anh
chờ ý.
Anh
đằm thắm bảo tôi:
- Bẩm anh
chờ tôi thu xếp trật tự một chút.
Rồi bảo chị
xớt lại mõi thứ đồ ăn một ít cho hai chúng tôi uống rượu. Còn chị và các con
dọn vào bàn trong. Tôi ngại ngùng định can thiệp nhưng nhìn những ngón tay đầy
vẻ cương quyết của chị, tôi biết sẽ vô ích.
Xong đâu
đấy anh mời tôi ngồi đối diện, bên anh cũng sẵn một keo rượu ngâm đầy những con
rắn có những khoang vằn vện, quấn quít vào nhau trông ghê rợn. Anh gắp một
miếng cà bỏ vào chén tôi, chậm rãi rót rượu nói.
- Bẩm cái
ăn, cái uống cũng có trật tự của nó. Tôi mời anh chén rượu chủ trước, rồi đến
rượu khách sau. Thứ rượu nầy uống không nhức mình. Tôi ngâm đến ba mươi hai thứ
rắn đó anh.
Anh bưng ly
uống trước. Tính tôi xuề xoà, đôi khi hơi khoác lác. Tôi không biết uống rượu
nhưng bưng ly ực một cái cho ra vẻ sành sỏi. Tuần tự như thế đến ngà ngà say,
kể hết cả chuyện buồn vui đời lính mà chưa ai dám đả động gì đến chuyện đốn cây
bằng lăng.
Buổi chiều
quê đậm dần theo hơi thở nồng nàn của rượu, đậm đến nỗi không khí đặc quánh như
có thể đưa bàn tay sờ được. Mình tôi ngột ngạt tôi mở banh cả ngực áo hóng gió.
Có một cơn gió thoáng qua. Tiếp theo hai ba cơn gió thoáng qua. Gió làm mát
lạnh cả lồng ngực và nây bụng. Bỗng lay lắt trước mắt tôi một vệt tim tím phảng
phất như làn ảo ảnh. Rồi từng vệt như thế thi nhau rơi xuống. Tôi nhìn lên theo
đường rơi của nó. Trên đầu tôi mới vầng mây tím, bằng lăng ra hoa che rợp góc
trời.
Biết
tôi đang ngắm hoa, anh nói:
- Của đấy
cho con người mà.
Tôi lặng lẽ
nhìn. Hoa tím cả mặt tôi. Màu tím đầm thấm đến đau xót.
- Đến mùa
này thì tôi uống rượu. – Anh tiếp – Còn mấy đứa nhỏ con của anh, con của tôi.
Sáng sáng, tụi nó lượm những cái bông rụng này – Anh lượm một bông bằng lăng –
Tụi nó làm tiền chơi nhà chòi hoặc thả xuống sông làm thuyền. ở cái làng quê
mình, tụi nó có gì mà chơi.
Câu nói của
anh làm tôi xốn xang và buộc tôi nhìn xuống bàn tay anh. Những ngón tay to bè
bè, chai cứng khiến trong cái đầu mụ mẫn vì rượu của tôi cũng cố thử nghĩ xem
nó đã vuốt mòn biết bao nhiêu bá súng, vuốt mòn bao nhiêu cán cuốc để cho những
đứa con anh có dĩa cà nướng đạm bạc chiều nay. Tôi lại xoè bàn tay thon nhỏ của
mình đưa lên sát mắt. Nó đỏ hồng và mảnh mai, những vết chai cầm súng khi xưa
giờ lặn đâu mất; Chỉ còn có ba vết chai mới một ở đầu ngón cái, một ở đầu ngón
trỏ, một ở đầu ngón giữa, bỗng thấy mắc cỡ với lòng mình. Nhưng tôi biết nghề
tôi hiện thời cũng không khác và khá gì hơn nghề của anh.
Uống cạn ly
cuối cùng. Mặt tôi nóng ran. Mi mắt nặng trĩu, tôi cố nhướng lên, đứng dậy.
Bỗng thấy một bông bằng lăng lắng dưới đáy ly, tôi nhặt nó, rồi khập khểnh chân
hươu đá chân nai ra về quên cả việc chào anh. Chiều nay tôi say khướt, say vì
cái mẻ làm ra vẻ sành sỏi rượu của mình.
Sáng ra,
tôi thấy chiếc xuồng đã cắm bên mương tôi. Biết anh đem nó thế sự sống cho cây
bằng lăng. Tôi cương quyết bảo vệ đem trả lại, nhưng chị Gàn cho biết anh Gàn
đã đi từ sáng sớm và không dễ gì thay đổi ý anh được.
Tôi đâm vào
tình trạng khó xử thêm, thầm trách vợ con. Cây bằng lăng đã rắc rối, giờ lại
thêm chiếc xuồng khó lòng xử sự.
Hôm đó, tôi
suy nghĩ mãi mới tìm được hướng giải quyết về phần mình, dặn vợ con nói với gia
đình anh Gàn. Tôi lại ra đi.
Sau dạo đó
ít lâu, tôi về nhà thì anh bị tai nạn: Tai bay vạ gió, nhưng xét cho cùng thì
cũng có một phần lỗi do tính tình anh, cái tính “kiến nghĩa bất di…” hễ gặp cái
ách liền đưa tay xách quàng vào cổ.
Vẹt bụi
chuối đã có thêm vài cây nanh con, tôi vào nhà. Vợ tôi đang nghỉ trưa ở bộ ván
ngựa cạnh tấm vách lá, thấy tôi vội ngồi bật dậy mừng quýnh. Chưa nói được điều
gì, vợ tôi đã bảo qua thăm anh vì anh bị người ta đánh.
Tôi đến.
Anh nằm ngay ngắn trên bộ vạt tre, phía trên còn treo lủng lẳng cái ba lô bạc
phếch. Anh ngủ, cái đầu gốc rạ và cườm tay phải đang bó băng trắng xoá. Nghe
tiếng húng hắng ho báo khách của tôi, anh thức dậy. Thấy tôi, anh toan chấp tay
chào nhưng có lẽ vì vết thương nặng cho nên nhắc lên không được. Tôi biết anh
cố gắng lắm khi làm động tác đó vì cuối mắt anh hằn lên những vết nhăn mới,
đường nét của đau đớn. Tôi lật đật ấn anh xuống.
- Đừng
ngồi, anh cứ nằm. Tôi sang thăm anh đây.
Anh Chịu
nghe lời, nhưng tỏ ra lúng túng thật sự. Đây có lẽ là lần đầu tiên anh mất bình
tĩnh trước tôi vì cái hình dạng khác lạ đến dị hợm của anh.
Anh kể hôm
đó anh cùng gia đình ra rẫy thì thấy miếng ruộng kế bên người ta đang chuẩn bị
xô xát với nhau. Hai bên cụ bị dao, gậy đựng chật cả ranh đất. Họ làm như sắp
sửa chém giết nhau. Thấy thế anh vội chạy báo công an lúc anh về đến thì họ
quần nhau vang cả mặt ruộng. Công an chưa đến kịp. Anh kêu họ ngừng tay và vội
vàng chạy vào can thiệp. Có ngờ đâu họ chỉ hò hét doạ nhau. Riêng anh lại xông
xáo vào can, họ chẳng biết anh về phe ai. Quá sợ vì sự sốt sắng của anh nên hai
bên bổ đại vào người anh rồi bỏ chạy. Vết thương ở đầu nặng làm anh bất tỉnh
ngay.
Anh chỉ cho
tôi cái kết đỏ lét của thằng Tí đang treo trên tường và cho biết lúc xông vào,
anh chụp đại chiếc nón đỏ chói đó đội lên. Anh khẳng định chắc chắn với tôi
rằng tại cái nón khách lạ đó mà họ nên anh. Chớ anh với họ có thù oán gì nhau.
Kể
xong, anh nói:
- Bẩm, đánh
nhau cũng phải có trật tự của nó chớ anh.
Tôi
phì cười trước câu lý sự gàn đó.
Riêng chiếc
xuồng ở nhà đã dàn xếp ổn theo ý anh. Mỗi bên thay nhau sử dụng nó liên tiếp
nửa tháng.
*
Bẵng đi một
dạo thật lâu, tôi lại về. Đến đầu xóm đã nghe tin anh chết. Vợ tôi nói cái chết
anh rất đơn giản đến như vô lý. Anh đi tưới rẫy ngang qua nhà ông Ba Dừa, thấy
đứa con gái út của ông đang oại người vì bị rắn cắn. Nhà giữa đồng, cả gia đình
đi vắng, chỉ có hai chị em còn nhỏ giữ nhà. Con chị nói em nó bị rắn cắn rồi
tỉnh bơ ngồi chơi đánh đũi với những cọng u du, nó không hiểu nỗi nguy hiểm
đang chờ em nó. Con bé đang mệt. Anh cột phía trên, và rạch vết thương hút thật
kỹ máu độc, cõng con bé băng đồng chạy về xã. Khi trạm y tế đưa cô bé đi tìm
thuốc. Anh về nhà nghỉ. Một giờ sau thấy hơi mệt, anh cho bởi chạy bộ đoạn
đường quá dài. Nhưng cơn mệt kéo đến mấy giờ đồng hồ sau. Anh ngộ độc vì hút
nọc rắn trong khi nướu răng bị rách mà anh không hay. Con bé sống, còn anh chở
đi tìm thuốc nhưng không kịp. Chị Gàn nói lúc gần chết anh có trối lại là hai
gia đình đừng đốn cây bằng lăng. Vì anh biết hai gia đình cùng nghèo, chắc chắn
mấy đứa nhỏ sẽ bỏ xứ sở đi xa vì miếng cơm, manh áo. Cứ để cây bằng lăng sống
cho tụi nó có một chỗ để nhớ, để quay về cái quê hương thời non dại.
Chiều ngày
đó. Tôi cùng vợ chống chiếc xuồng qua thăm chị Gàn. Vô tình lại ngay buổi cơm
cũng ngay mùa hoa trổ; Chị vẫn dọn cơm dưới tán bằng lăng. Gặp chúng tôi chị bỏ
dở bữa giữa chừng. Nhắc ba cái ghế bắc cạnh, nhưng cả ba đều không ai chịu ngồi
trước cũng không ai nói với nhau lời thăm hỏi nào. Cứ đứng.
Tôi nhìn
vào mâm cơm, các món ăn như cũ, cà nướng, cá lòng tong kho khô, canh ngót, rau
luộc. Mấy đứa con đang ngồi cũng theo cái trật tự từ lớn đến nhỏ, chúng không
ăn chỉ chống đũa nhìn chúng tôi rồi nhìn đăm đăm vào ba chỗ trống còn lại. Tôi
nhìn vào đó. Bỗng giật mình vì biết hai chỗ trống kia, một của anh, một của
chị, còn một nữa là ai. Tôi hỏi còn một chỗ nữa của ai. Chị đáp:
- Thằng Tí
đã đi ở đợ cho ông Bác rồi. Tôi không đủ gạo nuôi với nó muốn kiếm tiền phụ
tôi.
Tôi chịu
đựng không nổi đành làm bộ nhìn lãng lên cây bằng lăng. Bất ngờ trong tán cây
sâm sẫm đó có tiếng chào tôi, rõ to vang lên:
- Bẩm! Chào
Bác ạ.
Tôi giật
mình kinh hãi, chẳng lẽ là hồn ma bóng quế của anh Gàn. Không đợi lâu, từ ngay
chỗ phát ra tiếng nói, một vệt đen huyễn hoặc bay vòng cầu thẳng đến trước mặt
tôi và nhẹ nhàng đáp xuống bờ vai trái:
Con nhồng
đen của anh Gàn, sau khi đậu lại phồng cổ chào tôi thêm câu nữa.
- Bẩm! Chào
Bác ạ. – Rồi nó bay một mạch về tán cây.
Trời chập
choạng. Màu tím hoa ngả đậm và khép kín vòng tròn. Tôi chăm chú nhìn theo con
nhồng nhưng bóng nó đã lẫn trong tán cây, chỉ còn làm lao xao vài cành nhỏ.
Bỗng từ trong đó anh Gàn với cái vai phải hơi gù, khoác chênh chếch chiếc ba lô
xanh vẹt lá bước ra. Anh bước từng bước rất trật tự trong dầy đặt tia chớp đỏ
của lửa đạn. Rồi trong tích tắc, cái hình đáng ấy biến đổi, cũng anh nhưng vai
phải gù xuống hơn. Anh đang vác cuốc bước từng bước rất trật tự trên con đường
quê nghèo khó với đàn con dài dằng dặt đàng sau. ảo ảnh của hoa bằng lăng
chăng. Tôi tự hỏi. Không! Rõ ràng anh Gàn thật. Tôi đưa tay vỗ thật mạnh vào
trán mình và quay lại.
Tụi nhỏ con
anh Gàn đã bỏ bữa cơm, chúng chống đũa nhìn đăm đăm vào ba chỗ trống còn lại
trên chiếc mâm. Còn vợ tôi và chị Gàn, đương châu đầu vào nhau sụt sịt. Họ đưa
mấy ngón tay dài ngoằng quệt lấy những dòng nước chảy lãi dãi ở mũi. Hình như
họ khóc.
Tôi buộc
miệng buông một tiếng chưởi thề. Chiều nay không uống một giọt rượu nào mà sao
mi mắt tôi nặng trĩu và lòng mắt cay xè.
P.T.K
Người Sài Gòn
Truyện ngắn của Lê Văn Thảo
I
Năm 68 đơn vị chúng tôi đánh vào Sài Gòn, hướng phía Tây, vào được
nội thành tiếp tục đánh lấn từng dãy phố. Dân chúng tản cư hết, nhà phố cửa
đóng then cài, đêm tối om, nghỉ quân phải phá cổng phá cửa mới vào nhà được.
Một bữa
chúng tôi vào một nhà không phải phá cổng phá cửa, một phòng trên lầu còn sáng
đèn. Các anh trong ban chỉ huy lo triển khai đội hình đóng quân, kêu tôi lên
lầu coi thế nào. Tôi ghìm súng đi lên, thật cẩn trọng, đến trước cửa phòng còn
đứng lại một lúc nghe ngóng, rồi nhè nhẹ gỏ cửa. Cửa mở, một cô gái hiện ra.
Không có gì lạ cả, phòng học của cô gái, sách vở, kẹp tóc, rèm cửa, chao đèn…
Tôi lúng túng hạ nòng súng.
“Chúng
tôi đóng quân dưới nhà”, tôi nói.
“Tôi
biết rồi”, cô gái đáp, hơi một chút thản nhiên, lạnh lùng.
“Cô
cho chúng tôi ở chớ?”.
“Mấy
anh cứ ở”.
Không biết
nói gì nữa tôi chào đi xuống, báo lại với các anh trong ban chỉ huy những điều
trông thấy, nói không biết sao, một cô gái ở trong phòng mình vậy thôi. Các anh
nói tôi rảnh rỗi thỉnh thoảng lên dò la xem xét.
Cô gái suốt
ngày ở trong phòng, nấu nướng ăn uống luôn trong đó, ngày vài ba lần xuống nhà
vặn nước tưới cây, cho chim ăn. Có mấy lồng chim ở dãy nhà kho phía sau, vàng
anh hay họa mi gì đó, cô cho chim ăn, đứng lại một lúc nghe chim hót. Mấy con
vật thật lạ, bom đạn càng nhiều chúng hót càng hay.
Cô gái gần
như không nói chuyện với chúng tôi, tuy vẫn lịch sự nhã nhặn, gặp chúng tôi
trên đường cúi đầu đứng nép qua một bên.
Vài lần
trong ngày tôi lên lầu gõ cửa phòng tìm cớ hỏi mượn cây chổi, cách sử dụng lò
bếp, nán lại một lúc nhìn quanh. Vẫn không thấy gì, không có gì giống máy móc
điện đài hay những thứ đại loại như vậy. Cô gái vẫn thản nhiên lạnh lùng, không
tỏ vẻ chống đối hay chấp nhận.
Nói chung
không có gì lạ cả, một cô gái Sài Gòn như tôi đã từng biết trước kia.
Nhưng không
thể giải thích tại sao cô ở một mình như vậy, đang giữa lúc bom đạn ác liệt,
trong một trận đánh lớn như thế này?
Có
lần tôi hỏi chuyện cô lâu hơn một chút.
“Anh em
chúng tôi lần đầu tiên vào thành phố”, tôi nói. “Chúng tôi còn bỡ ngỡ lắm,
không biết có gì làm phiền cô không?”.
“Dạ
không phiền gì đâu”.
“Cô
là người Sài Gòn đầu tiên chúng tôi gặp”.
“Tôi
cũng mới gặp mấy anh lần đầu”.
“Cô
thấy chúng tôi thế nào?”.
“Thì
cũng vậy thôi”.
“Cô
thật tốt, cho chúng tôi ở nhà như thế này”.
“Không
có gì đâu mà”.
“Cô
ở một mình như vầy không sợ sao?”.
“Tôi
ở trong nhà tôi sợ cái gì?”.
Hôm
ra đi tôi lên lầu nói lời chia tay qua khe cửa:
“Chào
cô, chúng tôi đi nghen?”.
“Dạ,
mấy anh đi”, tiếng cô đáp nhẹ như hơi thở.
Chúng tôi
tiếp tục đánh tới, một chiến sĩ đi lạc tuần lễ sau tìm về đơn vị kể chuyện. Anh
bị thương nhẹ thôi, bị một toán giặc đánh cắt ngang không thể đi tới, tìm đường
về ngôi nhà cô gái. Cô ra mở cổng đón anh vào, vẫn với vẻ thản nhiên lạnh lùng,
nuôi nấng chăm sóc suốt tuần lễ. Hai người ở hai phòng cạnh nhau không nói
tiếng nào. Vết thương tạm lành, đường thông anh ra đi.
Vậy là thêm
một chuyện ân tình nữa của cô gái đối với chúng tôi. Nhưng cũng thêm một câu
đố. Nhiều năm về sau thỉnh thoảng nhớ lại chuyện cô gái tôi cứ thắc mắc, không
hiểu sao cô ở lại một mình giữa trận đánh lớn như vậy. Để làm gì? Cô là người
như thế nào?
II
Sau ngày
giải phóng bận rộn nhiều chuyện, mấy năm sau nhớ lại chuyện cũ tôi tìm đến nhà
cô gái tìm hiểu. Đã hơn mười năm trôi qua. Ngôi nhà vẫn như cũ nhưng người
trong nhà không biết gì cả, họ là chủ mới đến ở sau ngày giải phóng. Tôi tìm
hỏi các nhà lân cận, quần tới lui khu phố, cuối cùng có được chút thông tin.
Một cô chủ quán trẻ tuổi nói có nghe mẹ kể chuyện, nói có người này...
“Người
nào?”.
“Một
ông công tử nhà gần đây, để cháu đi kêu cho”.
Tôi ngồi
uống ly cà-phê, chút sau có người đàn ông đi vào, trạc tuổi tôi, nghĩa là độ
trung niên, ăn bận bảnh bao, dáng vẻ phong lưu nhàn nhã. Ông nhìn tôi lạnh
lùng:
“Ông
tìm hiểu chuyện đó chi vậy?”.
“Tôi
định viết bài báo”, tôi đáp.
“Tôi cũng
đoán vậy”, ông ta nói. “Báo chí bây giờ lấy chuyện người khác nuôi sống mình.
Mấy hôm rày tôi thấy ông đi riễu qua đây. Nhưng ông không viết được không?”.
“Sao
vậy?”.
“Không
sao cả. Có những chuyện không nên viết, vậy thôi”.
“Hồi
xưa cô ấy đã giúp đỡ chúng tôi”.
“Tôi có
nghe chuyện đó, cô ấy đã làm được chuyện tốt. Nhưng ông có viết tiếp nữa không,
nếu có chuyện không tốt như vậy?”.
“Tôi
không biết. Chúng tôi chỉ ở đó mấy ngày rồi ra đi”.
“Còn chúng
tôi ở đây cả đời”, ông nói. “Bao nhiêu chuyện vui buồn hay dở, ông không viết
hết được đâu”.
Ông công tử
có vẻ muốn chấm dứt câu chuyện. Nhưng tôi cố dò hỏi:
“Sau
đó có chuyện gì với cô ấy?”.
“Cũng có”,
ông đáp, ngập ngừng, như muốn lựa lời. “Chuyện là như vầy. Ông muốn biết tại
sao cô ấy ở lại một mình giữa bom đạn ác liệt chớ gì? Cô ấy là chiến sĩ đặc
công, hay sứ giả hòa bình? Không, cô ấy chỉ là người dân bình thường, như mọi
người chúng tôi. Cô ấy đang dấu một người dưới hầm. Một người tình! Và người đó
là tôi! Chuyện trai gái ấy mà. Hồi đó tôi còn trẻ, và cô ấy là một cô gái đẹp,
đúng không? Nhưng nhà cô ấy gia giáo nghiêm khắc, còn tôi thì chơi bời lãng tử.
Chúng tôi lén lút đi lại với nhau, nhiều ngày tháng trôi qua, cho đến hôm mấy
ông bất ngờ đánh tới, tôi bị kẹt trong nhà. Gia đình cô ấy tản cư từ trước, cô
ấy liều mình ở lại với tôi. Suốt mấy ngày tôi ở dưới hầm, mấy ông ở trên, cô ấy
vừa lo giúp mấy ông vừa lo cơm nước cho tôi, tôi ăn cùng với mấy con chim.
Chuyện như vậy đó, ông có định viết không?”.
Tôi có định
viết gì đâu. Tôi nói sang mấy chuyện khác rồi đứng lên, cô chủ quán kéo tôi vào
trong nói nhỏ:
“Chú đừng
tin ông ấy. Ông ấy nói dóc đó. Ông ấy hiền lành tốt bụng lắm, chỉ có con nhà
giàu rong chơi sanh tật nói dóc thôi. Năm đó cháu còn nhỏ nhưng cháu vẫn nhớ,
nhà cháu với nhà ông ấy cùng đi tản cư, chính ông ấy cõng cháu. Làm gì có
chuyện người tình ăn cùng với chim. Cháu mét vợ ông ấy thì ông ấy chết”.
Vậy chuyện
ra sao? Cuối cùng rồi câu chuyện của tôi lại đi vào ngõ cụt.
III
Lại hơn
mười năm nữa trôi qua. Cho tới gần đây ông công tử đến tìm tôi. Vẫn với dáng
nhàn nhã phong lưu, nhưng ông đã già đi nhiều, lưng hơi còng tóc bạc một nửa.
Ông ngồi với tôi tại phòng khách cơ quan, người ra vào chen sát bên lưng. Ông
vào chuyện ngay:
“Tôi nói
lại chuyện cô gái ngày xưa. Tôi đã kể ông nghe hết rồi, nhưng ông bỏ đoạn sau
dùm tôi”.
“Đoạn
nào?”.
“Đoạn
người tình dưới hầm”.
“Thì
chính ông mà?”.
“Không phải
tôi. Hồi đó tôi sợ ông viết báo nên nói dối. Cô ấy có dấu người tình dưới hầm,
nhưng là người khác. Một thằng không ra gì. Tôi thương cô ấy hết lòng, nhưng cô
ấy không thương tôi, lại đi thương thằng mắc dịch ấy. Một thằng du thủ du thực
cờ bạc hút xách đủ cả, có lần dính với một vụ cướp phải đi tù. Nó không phải
người ở đây, cũng không ở đâu. Không biết cô ấy gặp nó ở đâu dính với nó như
vậy. Sau lần cô ấy liều mình ở lại với nó, mấy ông rút đi rồi nó cũng trốn đi,
cuỗm theo tất cả tiền bạc tư trang gia đình. Yên rồi gia đình trở về từ cô ấy,
thật ra trước đó cô ấy đã trốn đi với nó rồi. Thế là bắt đầu cuộc đời khổ cực
của cô ấy. Không thể tưởng tượng được. Không một ngày cô ấy được sung sướng.
Thằng ấy đâu thương gì cô ấy, chỉ lợi dụng vòi tiền, cô ấy bỏ nhà bám theo nó,
nó coi như món nợ mặc tình vùi dập hất hủi. Một lần có người gặp hai đứa trên
núi Bà Đen, đi coi bói cho khách hành hương, cô ấy coi tay giũ quẻ nó giữ bọc
thu tiền. Một lần khác hai đứa đi đào vàng, cô ấy đãi cát dưới suối nó nằm ngủ
dựa gốc cây. Nói chung hai đứa làm đủ thứ nghề bậy bạ không ra làm sao, và cô
ấy làm chớ không phải nó làm. Có lần có người thấy chúng vào ăn cơm nhà hàng,
nhưng lần khác lại thấy chúng đánh xe bò, chính cô ấy cầm cương, trong xe không
thấy chở gì cả ngoài thân xác nằm ườn ra của thằng ấy. Lâu lâu cô ấy bị nó đánh
cho một trận phải nằm bịnh viện, đó là dịp tôi đến thăm cho ít tiền đồ đạc,
không nhiều nhặn gì vì bà vợ tôi không phải tay vừa. Có một lần cô ấy lết về
tận thành phố, tưởng cô ấy bỏ nó được rồi, tôi mua cho căn nhà nhỏ chiếc xe ép
nước mía làm phương tiện sinh sống. Nhưng chẳng được bao lâu, đến thăm thấy nhà
trống hoang. Cô ấy lại bỏ đi với thằng đó... Tại sao vậy hả ông? Tại sao người
ta cứ đi tìm chuyện cực chuyện khổ như vậy?”.
“Tôi
không biết”.
“Tôi cũng
không biết. Nhưng tôi vẫn thương cô ấy, cô ấy càng khổ tôi càng thương. Hôm nay
tôi đến nói chuyện với ông vì cô ấy vừa mới trở về. Là do thằng đó đã chết.
Uống rượu say té chết hay bị chó cắn gì đó. Cô ấy về đem theo đứa con gái nuôi.
Đến đứa con thằng đó cũng không cho được cô ấy. Hai mẹ con ở căn nhà tôi mua
cho dạo ấy. Nhưng chỉ được mấy ngày đứa con gái nuôi bỏ đi mất, chắc lại bám
theo một thằng mắc dịch nào đó. Lại vô cái vòng lẩn quẩn rồi. Cô ấy giờ đã già,
cuộc đời long đong khổ cực khiến cô ấy tàn tạ như một mụ ăn xin, còn sức đâu đi
coi bói đánh xe bò được nữa…”.
“Ông
không có cách gì giúp được sao?”.
“Giúp làm sao, cô ấy có phải vợ tôi đâu? Tôi đâu giàu có gì, không
còn vợ con tôi phải lo hay sao? Nhưng tôi đến nói chuyện với ông không phải
chuyện đó. Tôi đến nhờ ông viết một bài báo. Chuyện đời hay dở như tôi với bà
ấy, hay với ông, chúng ta đã qua một đời rồi... Tôi chỉ mong ông viết bài báo
may ra đứa con gái nuôi đọc được, trở về với má nó”.
9-1998
L.V.T
Bức tranh
Truyện
ngắn của Nguyễn Minh Châu
Tôi là một hoạ sĩ. Tôi không phải là một người viết văn. Tôi phải
tự giới thiệu như vậy ngay từ đầu, không hề có ý muốn mong chờ hay cầu khẩn nơi
các bạn đọc một thái độ rộng lượng. Ngay từ đầu, tôi phải nói vậy để tự dặn
mình, tự ra lệnh cho mình, tôi viết chuyện này ra đây là viết cho tôi, cho một
bức tranh tôi vừa vẽ xong. Thứ nữa, tôi viết cho một người thứ hai. Viết cho
tôi hoặc cho một người thứ hai, một người thợ cắt tóc thì những điều tôi sắp
viết ra đây cũng chỉ là những lời tự thú.
Không
biết đã bao nhiêu tháng nay, từ cái hôm vô tình tôi đến cắt tóc ở cái hiệu đó
và phát hiện ra anh thợ cắt tóc đó, tháng nào tôi cũng tự bắt buộc mình đạp xe
hai ba cây số đến cắt tóc ở đó. Cũng đã không biết bao nhiêu tháng nay, tôi cặm
cụi để hết tâm sức vẽ một bức tranh sơn dầu. Sơn dầu vốn là một chất liệu không
phải thuộc sở trường của tôi, nhưng với cái nội dung đó, tôi không muốn dùng
thuốc nước hay sơn mài. Thuốc nước, cái nghệ thuật chấm phá của thần bút cũng
như không khí lấp lánh hư ảo của sơn mài không thoả mãn tôi, - tâm trạng một
hoạ sĩ muốn dùng ngọn bút vẽ để tự tìm hiểu mình, tự phán xét mình. Sáng nay
tôi đã vẽ xong, và lúc này, tôi đang ngồi trước bức tranh tự hoạ của mình, tự
đối diện với mình. Các bạn hãy thử tưởng tượng khuôn mặt của một người khách
đang ngồi như bị đóng đinh vào chiếc ghế mộc của một cửa hiệu cắt tóc, với một
tấm khăn choàng trắng buộc trùm kín ngực. Một cái mặt người rất lớn chiếm gần
trọn bức tranh. Những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu
chiếu thẳng xuống một nửa cái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn, và
một nửa mái tóc đã cắt thoạt trông như một phần bộ óc màu xám vừa bị mổ phanh ra. Khuôn
mặt của người khách: một cặp mắt mở to nhìn trừng trừng vào luồng ánh sáng, một
cái nhìn khắc khoải, bồn chồn, kinh ngạc và đầy nghiêm khắc. Phần bên dưới của
khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín bởi bọt xà phòng. Không thấy rõ cái miệng,
chỉ trông thấy một vệt lờ mờ màu đen nổi bồng bềnh trên đám bọt xà phòng phồng
to.
Cái khuôn
mặt đó thoạt nhìn thật xấu xí và lạ lùng, nhưng càng nhìn lâu càng giống tôi.
Đó là khuôn mặt của mình, khuôn mặt bên trong của chính mình, tôi tự nhủ thầm.
Đó là khuôn mặt của tôi lúc ngồi trên chiếc ghế mộc, đầu kê trên thành chiếc
ghế được lót bằng một khúc gỗ lõm có lót da và đang ngước nhìn lên, đối mặt với
người thợ cắt tóc.
Để các
bạn dễ theo dõi, tôi phải kể ngay rằng cách đây khoảng tám năm, tôi đang công
tác ở một chiến trường cực kỳ xa xôi giáp biên giới miền Tây Nam Bộ. Khi nhận
được lệnh trở ra miền Bắc để cùng các hoạ sĩ ngoài Hà Nội chuẩn bị một cái
triển lãm ở nước ngoài, thì tất cả tranh và ký hoạ của tôi vẽ trong mấy năm đã
chất lên đầy một cái sạp lán giữa rừng căn cứ. Tôi lọc lấy chỉ độ một phần ba,
vậy mà trên đường tôi đi ra, các đồng chí phụ trách các trạm giao liên trên
từng chặng từng chặng một, phải thay phiên nhau cử một chiến sĩ của trạm đi
theo “thồ” tranh cho tôi.
Hôm đó,
đoàn chúng tôi đi qua một vùng trên đất bạn nổi tiếng nhiều biệt kích, lại rất
đói, cũng là cái “rốn” của bệnh sốt rét. Chúng tôi được nghỉ lại một ngày để
dưỡng sức, lán của nhóm khách đi đường chúng tôi dựng ngay trên đầu một cái lán
khác của anh em chiến sĩ trong trạm. Buổi trưa, tôi đang ngồi vẩn vơ ghi mấy
cái dáng hòn đá, thân cây trước lán nghỉ của mình thì trông thấy một người
chiến sĩ nước da xam xám và cặp môi thâm sì đang leo mấy cái bậc dốc từ lán
dưới đi lên. Người chiến sĩ đi thẳng đến trước mặt tôi và ngồi xuống xem tôi vẽ. Rồi sau mấy câu chuyện làm
quen, người chiến sĩ tha thiết thỉnh cầu tôi vẽ cho anh một bức chân dung.
Tôi bỗng
thấy tự ái. Tôi là một hoạ sĩ, chứ đâu phải một anh thợ vẽ truyền thần(!). Tôi
từ chối khéo bằng cái mặt lạnh lùng. Người chiến sĩ tỏ vẻ phật ý, anh nhìn vào
cái mặt lạnh lùng của tôi một thoáng rồi lẳng lặng quay lưng lại tôi, chậm
rãi đi xuống dưới những cái bậc dốc.
Sáng hôm
sau, chúng tôi lại lên đường. Thật một điều không ngờ, chẳng biết ai xui khiến
thế nào mà chính người chiến sĩ trưa hôm qua lại đến “thồ” tranh cho tôi, chính
lại là anh chứ không phải một người nào khác. Thật là phiền cho tôi quá!
Vừa ra
khỏi trạm, người dẫn đường đã báo cho khách biết trên dọc đường phải vượt thật
nhanh khi leo một con dốc, sau đó là một con suối rất trống trải, đã có một vài
đoàn bị bọn biệt kích bắn lén hoặc máy bay thám thính phát hiện. Cái nghề đi
đường rừng nó là như vậy, nói một chữ chung chung là đèo, dốc, suối… nhưng ở
thực địa mặt mũi chúng chẳng chỗ nào giống chỗ nào cả. Đi đến quá trưa, chúng
tôi gập lưng lại, leo qua một quả núi đất không dốc lắm, mọc đầy cỏ tranh đang
trổ bông rất đẹp và lác đác có những hòn đá tai mèo. Những vỉa đá tai mèo mọc lởm
chởm giữa cỏ tranh mỗi lúc một dày, và khi quả núi đổ sang sườn dốc bên kia thì
chỉ có rặt đá tai mèo cứ đen kịt, chúng tôi vừa thở dốc ra cả bằng mũi, bằng
tai, năm ngón tay bíu chặt lấy chỏm đầu từng hòn đá một mà đi lần xuống.
ác thay
cái bãi đá tai mèo nằm giữa khúc suối dưới chân núi. Có lẽ nó rộng đến năm trăm
thước. Con suối chảy đến đấy thì phình rộng ra chảy lênh láng và réo lên ầm ầm
trên một cái nền đá lởm chởm. Tuy đã được nghỉ một ngày nhưng sau khi leo qua
được quả núi thì tôi đã thấm mệt. Tôi dò dẫm đi giữa khúc suối một cách vất vả
quá, cứ dần dần bị tụt lại sau. Rồi chân tôi tự nhiên bị sỉa xuống một hẻm đá
ngầm dưới nước. Tôi giơ hai tay lên trời chới với…
Người
chiến sĩ “thồ” tranh cho tôi đang đi phía trước, cách một quãng khá xa, vội vã
quay lộn lại. Nếu anh không đến kịp có lẽ là tôi đã bị dòng suối cuốn đi. Anh
cởi chiếc ba lô sau lưng tôi, khoác vào trước ngực mình. Anh đỡ lấy tôi, giúp
tôi rút cái chân lên. Rồi dìu tôi đi. Tôi thở dốc. Mồ hôi vã ra như tắm. Hai
mắt đổ đom đóm. “Đồng chí cố gắng lên – Người chiến sĩ vừa đi
vừa động viên tôi – Tôi dìu đồng chí đi nhanh qua bên kia suối sẽ nghỉ. Nếu
thằng L.19 đến, chúng mình cứ ngồi xuống. Nó chẳng thấy gì cả đâu!”.
Tôi không
đủ sức theo kịp đoàn được nữa. Qua bên kia suối, người chiến sĩ lấy dầu con hổ
bóp chân cho tôi, lúc ngồi nghỉ. Rồi bắt đầu từ đó, chỉ có hai người, anh và
tôi, đi trong rừng. Tôi chỉ có thể đi người không. Người chiến sĩ vừa phải
“thồ” đống tranh của tôi sau lưng (to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường
của khách đi đường) lại vừa phải mang thêm chiếc ba lô riêng của tôi trước
ngực. Có lẽ tất cả đến sáu bảy chục cân. Mà người chiến sĩ có khoẻ mạnh gì cho
cam!
Tôi không
nói thì chắc các bạn cũng biết, ngay từ lúc người chiến sĩ đến gặp tôi để nhận
mang cái bó tranh, tôi đã khó xử đến thế nào? Thế mà bây giờ, trên dọc đường,
không những riêng cái đống tài sản của tôi mà cả chính tôi cũng đã trở thành
một gánh nặng cho anh. Xưa nay tôi vẫn cho mình là một kẻ cũng biết tự trọng,
và cũng biết suy nghĩ. Giá người chiến sĩ tỏ thái độ lạnh nhạt hoặc mặc xác tôi
nằm lại một mình, tập tễnh đi một mình giữa rừng, thì tôi cũng thấy là cái lẽ phải.
Xưa nay tôi vẫn quan niệm rằng: sống ở đời, cho thế nào thì nhận thế ấy. Cái
cách cư xử của người chiến sĩ đối với tôi chỉ có thể giải thích bằng lòng
độ lượng. Độ lượng? Thế nhưng tôi nhiều tuổi hơn? Tôi lại là một hoạ sĩ có tên
tuổi? Xưa nay tôi chỉ mới thấy lòng độ lượng của kẻ trên đối với người dưới.
Bây giờ thì chính tôi, một kẻ bề trên, đang được một người dưới tỏ ra độ lượng
với mình.
Tối ngày
hôm đó, hai chúng tôi phải ngủ lại nửa đêm giữa rừng. Người chiến sĩ mắc võng cho
tôi nằm rồi ôm súng ngồi gác bên cạnh. Nhưng làm sao mà ngủ được? Tôi đến ngồi
bên anh, trên một phiến đá. Rừng đêm tối mò và đầy hăm doạ.
“Tôi xin lỗi đồng chí về cái việc hôm qua… - tôi nói khẽ bên tai anh - Đến mai,
thế nào tôi cũng phải vẽ đồng chí. Một bức, thật đẹp!”.
“Giá có
một chỗ nào có thể chụp ảnh thì tôi không dám phiền đồng chí nhiều vậy đâu! –
Anh nói chậm rãi - ác một cái, ở trong rừng, chẳng có hiệu ảnh”.
Ngừng một
hồi rất lâu, anh lại mới tiếp:
“Vừa rồi
tôi gặp cậu tân binh ở ngoài mới bổ sung vào. Mới biết, không hiểu sao gia đình
tôi ngoài Bắc lại nghe tin tôi hy sinh. Thư từ ở đây gửi về ngoài ấy mất một
năm. Mấy năm nay tôi định gửi về nhà một cái ảnh theo cái điều ao ước của mẹ
tôi từ lâu, mà không chụp ở đâu được!”.
Tôi ngắt
lời anh:
“Vậy thì
tôi vẽ đồng chí một bức thật giống. Tôi sẽ trực tiếp mang theo ra. Đồng chí hãy
viết một lá thư nữa và ghi địa chỉ gia đình cho tôi. Tôi sẽ trực tiếp mang thư
và “ảnh” đồng chí tới tận nhà…”.
Tôi sốt
sắng bàn với anh kiếm củi nhen lửa để tôi vẽ ngay, nhưng anh ngăn lại. “Đừng
đốt lửa!” – Anh nói.
Sáng sớm
hôm sau, anh đưa tôi đến trạm mới.
Tôi hoàn
thành bức chân dung người chiến sĩ “thồ” tranh chỉ trong khoảng nửa tiếng
đồng hồ. Tôi không thể có hoàn cảnh vẽ chậm chạp, rềnh ràng được. Bởi vì, ngay
sau đó tôi lại phải theo đoàn lên đường đi chặng tiếp theo, và người chiến sĩ
cũng đang có nhiệm vụ mang đồ đạc cho một đồng chí cán bộ cao cấp trong một
đoàn khách đi vào trạm của anh. Cả hai chúng tôi đều vội, đến nỗi anh cũng
chẳng kịp viết thư mà chỉ kịp ghi cho tôi cái địa chỉ. Rồi hai chúng tôi chia
tay nhau.
Thành
công của nghệ thuật có đôi lúc là một cái gì rất cầu ơ, điều này có lẽ chỉ có
anh em chúng tôi trong nghề với nhau mới thấu hiểu hết được. Chắc các bạn sẽ
lấy làm lạ - cũng có thể chẳng lấy làm lạ - nếu được biết rằng cái “bức ảnh
truyền thần” người chiến sĩ mà tôi đã vẽ vội vàng trong cái buổi mờ sáng ở
trong rừng đó, về sau, hoàn toàn ngoài cả dự định của tôi, đã nghiễm nhiên trở
thành một tác phẩm hội hoạ nổi tiếng của tôi, không những ở trong nước, mà cả ở
nước ngoài nữa. Thật thế, chính bản thân tôi cũng không thể nào lường hết được
quy luật đào thải của thời gian. Một điều thật đáng buồn là tất cả số tranh và
ký hoạ mà tôi đã tốn biết bao công phu mang từ trong chiến trường ra chuyến đó,
chẳng có một bức nào còn lại được, mặc dầu một số lớn đã được bày triển lãm, đã
được in rải rác trên báo. Trong khi đó, “bức ảnh truyền thần của người thợ vẽ” thì lại còn
lại mãi mãi, như một cái “đinh” của sự nghiệp sáng tác của tôi, trong những năm
chiến tranh.
*
Đáng lý
ra tôi không bao giờ đến cắt tóc ở cái hiệu ấy. Nhà tôi cũng như cơ quan tôi
làm việc đều ở phía cuối thành phố. Vậy mà cái hiệu cắt tóc chẳng có gì đáng
phải chú ý đó ở tận đầu phía tây bắc thành phố, lại nằm trên một phố nhỏ khuất
nẻo có lẽ là lần đầu tiên tôi đặt chân đến. Sáng hôm đó, một buổi sáng mùa hè,
tôi có công việc đến cơ quan, nhưng người tôi định tìm gặp chẳng may lại đi
vắng. Tôi dắt
xe ra, lượn vòng vèo quanh mấy khui phố cổ phía bắc để ngắm nhìn những mái ngói,
những mảng tường. Tôi lang thang với con mắt nghề nghiệp khoảng một vài tiếng
đồng hồ. Buổi sáng đó, nếu trong túi tôi có một mẩu bút chì và cuốn sổ ký hoạ
thì sau đó không bao giờ tôi nảy ra cái ý định đi cắt tóc. Tôi bước vào một cửa
hiệu có hai ghế nhưng cả hai đều đã có khách. Tôi liền quay ra, dắt xe đi men
theo một bức tường rất dài. Cuối bức tường, có một cái quán bán nước mở ngay
bên một cái ngõ, một đám đông thanh niên đang ngồi nhẩn nha uống nước chè chén
và hút thuốc. Bên cạnh quán nước lại thấy một cái hiệu cắt tóc. Chẳng có gì
đáng có thể được gọi là “cửa hiệu” cả: kề sát bên mái lá quán nước, một mảnh
vải ni-lông tăng bộ đội che lấy một khoảnh đất bằng bốn chiếc chiếu nằm hơi
thụt sâu xuống vương vãi đầy những lọn tóc. Một chiếc ghế mộc cũ kỹ, có lẽ do
người thợ cắt tóc tự đóng lấy, trên thành ghế vắt một chiếc khăn choàng trắng
khá sạch sẽ. Quán cắt tóc vắng thợ. Chỉ thấy một bà cụ già đang cầm chổi quét
những lọn tóc vun vào một góc. Tôi dựng xe đạp vào bức tường phía ngoài vỉa hè,
bước vào. Cái quán cắt tóc thoạt trông vẻ ngoài chẳng có gì hấp dẫn nhưng điều khiến tôi có cảm
tình ngay là trên bức tường, phía trên tấm gương soi, có dán bức tranh nổi
tiếng của tôi. Đó chính là bức ký hoạ chân dung người chiến sĩ đã “thồ” tranh
cho tôi tám năm về trước.
Lúc bà cụ
ngẩng lên, tôi mới biết đó là một người loà. Nghe tiếng chân của tôi bước vào,
bà cụ cầm chiếc chổi ngẩng lên, từ từ hướng cặp mắt trắng đục về phía tôi. Tôi
nhận thấy một nét rạng rỡ, hoan hỉ đang từ từ lan ra trên khuôn mặt bà:
- “Mời
ông ngồi chờ một lát. Cháu nó uống chén nước xong là bắt tay làm cho ông ngay!
Thưa, ông chỉ đợi cho mấy phút thôi ạ!”.
Tôi đáp
“vâng” và đến ngồi vào chiếc ghế. Bà cụ lại tiếp tục quét, nhưng có lẽ vẫn còn
áy náy sợ khách bỏ đi mất nên lại ngẩng lên: “Có báo mới cháu nó để trên bàn.
Ông coi đi!”. Tôi giơ tay cầm tờ báo trên hàng chai lọ và giở ngay trang tư có
đăng nhiều tin tức thế giới.
*
Tờ báo
hàng ngày có một số tin mới. Tôi không phải loại người say mê môn bóng đá đến
mức quá khích như một số người khác, nhưng cái bài tường thuật trận đấu bóng
trên sân cỏ ở một thủ đô bên châu Mỹ La-tinh khéo quá, đã hấp dẫn tôi đến mức
người thợ cắt tóc trở về lúc nào tôi không biết, tôi cứ để mặc cho người thợ
cắt tóc quấn vào ngực chiếc khăn choàng, rồi dùng lược chải qua mái tóc, rồi
bấm thử tông-đơ tanh tách bên tai, rồi hình như anh ta kêu tôi để tóc tốt quá
lâu không chịu cắt. Cho đến lúc anh ta dùng hai bàn tay xoay cái mặt tôi cho
thẳng và hất cái mặt tôi ngẩng cao lên hơn một chút, thì tôi mới chịu buông tờ
báo.
- Bác cắt
như cũ chứ?
- Vâng.
Trước mặt
tôi, kề ngay sát, lúc bấy giờ là một anh thanh niên trạc ngoài ba mươi. Anh ta
có một khuôn mặt mà hình như tôi đã từng gặp, nước da mai mái của người đã từng
ở rừng. Một chiếc sơ mi bằng vải phin trắng ngả màu cháo lòng và chiếc quần bộ
đội cũ vá một vài miếng đang bốc lên một thứ mùi sin sỉn, mùi quần áo của những
người thợ cắt tóc.
Tôi có
thói quen không sửa được, thích trò chuyện:
- Anh làm
ở tận trong cái ngõ này chắc ít khách?
- Cũng đủ
làm. Phần nhiều khách quen. Nhưng hồi này cái nghề chúng tôi làm ăn cũng khó
khăn.
Tôi cãi:
- Khó
khăn là những thứ nghề khác, những công việc khác, ví như những người mua gian
bán lận, chứ như cái nghề của anh, thời nào mà sợi tóc chẳng mọc dài ra,
người ta bao giờ mà chẳng phải cắt tóc?
- Nhưng
bác tính,
khi người ta làm ăn dư dả, có đồng tiền, thì mới năng trang điểm,
tô vẽ cái răng, cái tóc chứ?
- Vậy thì
tôi chịu anh. Anh làm nghề này lâu chưa?
- Đã gần
mười lăm năm. Từ lúc tôi còn đi học và chưa đi bộ đội kia.
Tôi có
tính hay lãng quên những việc không đáng nên quên một chút nào, nhưng ông trời
vốn dĩ phú bẩm cho tôi một trí nhớ đôi lúc chớp loé lên, có thể nhìn thấy rõ
một ngày trong đời của tôi hồi sáu bảy tuổi, như nhìn vào một bức ảnh cũ. Thế
là tôi đã nhận ra được người thanh niên làm nghề cắt tóc đó. Đúng, chính là
người chiến sĩ đã “thồ” tranh cho tôi, tám nưm về trước. Ôi chao, lúc ấy, tôi
chỉ muốn có một cái mặt nạ, hoặc bé xíu lại như một hạt đậu, trên cái ghế cắt
tóc. Tôi biết nói thế nào để các bạn có thể cảm thụ được cái cảm giác phạm tội
của tôi lúc
ấy nhỉ? Có bao giờ bạn dọn nhà không? Khi người ta phải thay đổi chỗ ở, có
những thứ đồ đạc tưởng mất biến đi từ lâu, lục lọi, tìm kiếm khắp vẫn không
thấy, thì tự nhiên lòi mặt ra tận trong góc tủ, dưới gầm giường. Có những thứ
đồ vật vô nghĩa. Có những thứ nhắc tới một chút kỷ niệm đẹp đẽ. Có những thứ
gợi lên một câu chuyện chẳng hay ho gì, tưởng đã quên hẳn cái chuyện đó thì bây
giờ cái đồ vật lại từ xó xỉnh, bụi bặm, từ xó tối từ từ bò ra, cái vật vô tri lại
thủ thỉ nói chuyện với anh, khiển trách anh, lên án anh.
Tại sao
ngày ấy tôi đã không đưa “tấm ảnh” đến cho gia đình anh. Tại sao tôi không giữ
lời hứa? Mà tôi vẫn còn nhớ, tôi đã hứa với anh và cả với tôi nữa, đinh ninh và
hùng hồn lắm, và cũng thực tâm lắm chứ? Trong cái đêm ấy, khi tôi ngồi bên anh
trên phiến đá giữ khu rừng bên nước bạn, giá có phải chạy qua làn đạn của địch,
hay băng qua ngọn lửa, thì tôi cũng quyết định sẽ vượt qua, để đưa tấm hình về
trao tận tay những người trong gia đình anh, để đền đáp chút ít tấm lòng độ
lượng quá lớn lao nhưng lặng lẽ mà anh đã đối xử với tôi. Lúc ấy, mắt tôi đã
rưng rưng khi nghe kể chuyện ở ngoài này, bà mẹ anh đang nhầm tưởng anh đã hy
sinh. Và buổi sáng hôm sau, lúc chia tay nhau, tôi lại còn hứa đi hứa lại, để
cho anh trở về thật yên tâm và tôi lại còn nhớ, tôi đã nắm tay nhiều lần không
nỡ rời, tôi ôm anh, rồi thật là giả dối chưa, tôi lại còn hôn anh nữa, trước
khi lên đường đi chặng tiếp. Từ bữa đó, tôi đi bộ ròng rã gần ba tháng thì ra
đến Hà Nội. Ngày đó, khi đặt chân về đến Hà Nội, tôi vẫn còn mang ý định đến thăm nhà anh ngay, và
mang theo bức vẽ đến. Nhưng chỉ sau một tuần lễ, tôi đã thiết lập được với cái
xã hội hậu phương chung quanh những mối quan hệ mới, cái không khí chiến trường
tự nhiên nhạt nhoà đi, cái mối nhiệt tâm của lúc còn ở trong đó vơi bớt đi –
không, đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh! Tôi phải nhận rằng, chỉ sau một tuần lễ, được
bè bạn sành sỏi nhất trong nghề đánh giá bức ký hoạ thật cao, tôi liền lờ quên
cái người mẹ đang ôm ấp mối đau khổ vì ngộ nhận con trai đã hy sinh đang ở ngay
trong thành phố, tôi liền đóng gói bức ký hoạ chung với những bức tranh đem đi
dự triển lãm Việt Nam ở nước ngoài. ỷ vào ngày giờ đi quá cấp bách, tôi cũng
không kịp nghĩ đến việc tới thăm bà mẹ anh nữa!
Có những
lúc con người ta không còn chỗ trú nấp. Đó là cái lúc ngồi ngửa mặt trên chiếc
ghế, tôi nhận ra anh một cách chắc chắn, biết không thể nào nhầm được nữa! Tôi
chỉ còn mong anh không nhận ra tôi. Không, nhất định anh phải nhận ra chứ,
khuôn mặt tôi gần mười năm nay chụp ảnh thấy ít thay đổi lắm. Mà cái mặt mình
chỉ cách mặt anh có mấy tấc. Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi đang
được bàn tay anh dằn ngửa ra. Da mặt tôi cứ dày lên. Tôi nhắm mắt, rồi mở mắt.
Mỗi lúc mở mắt, tôi không thể nhìn đi đâu khác cặp mắt anh. Trời ơi, có lẽ tôi
ngồi trên ghế cắt tóc ở cái quán này đã một nửa thế kỷ? Chốc nữa, sắp tới, anh
sẽ làm gì tôi đây?
*
- Đồ dối
trá, mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã loà cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm
hình tao đã được trưng trên các tạp chí hội hoạ của khắp các nước. Người ta đã
trân trọng ghi tên mày bên dưới, bên cạnh mấy chữ: “Chân dung chiến sĩ giải
phóng”. Thật là danh tiếng quá!
- Tôi là
một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc nghệ sĩ là
phục vụ cả một số đông người, chứ không phải chỉ phục vụ một người! Anh chỉ là
một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để cho tôi quên đi,
để phục vụ cho cái đích lớn lao hơn. Anh đã thấy đấy, bức “chân dung chiến sĩ
giải phóng” đã đóng góp đôi chút vào công việc làm cho thế giới hiểu cuộc kháng
chiến của chúng ta thêm!
“A ha! Vì
mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả… Có quyền
lừa dối hả? Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi. Anh cút đi!”.
Giá lúc
đó, sau khi cắt tóc xong, anh bảo tôi hãy ngồi lại để hỏi cái món nợ tám năm về
trước, thì có thể sau đó tôi không trở lại cái quán cắt tóc ấy nữa, cũng nên.
Thế nhưng anh vẫn làm như không hề bao giờ quen biết tôi. Khi tôi ra về, anh
chào tôi một cách thân mật, nhã nhặn sau khi nhận tiền cắt tóc.
Đã gần
một tháng rưỡi, tóc tôi dài quá, mà vẫn chưa cắt. ít hôm tôi lại đạp xe trở lại
ngôi quán đó, nhưng vừa chớm đến nơi thì tôi đã cắm cổ đạp thật nhanh, cố giấu
mặt đi. Mỗi lần đạp vụt qua khỏi cái quán cắt tóc ấy, tôi phóng hẳn sang một
đoạn phố khác, cứ sợ đôi mắt người thợ cắt tóc nhìn theo, nhưng trong bụng lại
cảm thấy thất vọng. Tôi lại mon men đạp trở lại, y như một kẻ đã trở nên lẩn
thẩn, tôi đến ngồi ở một cái quán nước trước cổng một cái bệnh viện bên kia
đường, cách cái quán cắt tóc một quãng. ở đấy, khách uống nước bao giờ cũng
đông. Tôi ngồi lẫn vào. Tôi gọi một chén nước, vừa uống vừa nhìn sang. Lần nào
tôi cũng trông thấy anh, nhưng có lần thấy bà mẹ anh, có lần không.
Một bận,
đến hai ngày liền tôi không thấy anh thợ của tôi làm việc. Cái quán cắt tóc bỏ
vắng hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba vẫn thế. Và lại thấy một người đàn bà ra
dọn dẹp, chứ không phải bà cụ già loà như mọi ngày. Tôi chạy sang. Chiếc ghế
cắt tóc không còn nữa. Chỉ còn chiếc gương và mấy cái chai lọ. Người đàn bà hỏi
tôi:
- Bác đến
cắt tóc?
- Vâng.
- Nhà em
mấy hôm nay đang dọn cái chỗ làm mới ở phố ngoài kia. Ngày mai xong. Xin mời
bác đến.
Vợ anh có
vẻ trạc tuổi gần ba mươi. Một khuôn mặt đàn bà hiền lành. chị vừa nói vừa bóc
tấm tranh của tôi ra. Tôi gợi chuyện.
- Bức
tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ?
Người đàn
bà hơi đỏ mặt, cuộn tấm tranh lại một cách cẩn thận. Lâu sau mới đáp:
- Anh nhà
tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy. Hồi anh ấy
còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo.
- Anh ấy
nói với chị thế?
- Vâng.
- Hôm
trước tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ…
- Là mẹ
anh nhà tôi. Thế ra bác là khách quen?
- Vâng.
Bà cụ bị tật lâu chưa?
- Thưa đã
lâu. Đã tám chín năm nay.
- Vì sao?
- Bà cụ
loà đi cũng vì anh nhà tôi. Ngày đó bỗng nhiên có tin ra anh nhà tôi hy sinh.
Bà cụ đâm ốm. Anh ấy là con một. Bà cụ nhớ anh ấy, nửa đêm cũng trở dậy đi lang
thang. Cứ khóc hoài…
- Bà cụ
loà từ năm nào, chị biết không?
- Từ 69.
- Từ
tháng mấy?
- Tôi
cũng không nhớ thật rõ, có lẽ khoảng giữa năm.
Tôi ra
đến Hà Nội vào đầu tháng ba năm ấy. Nếu tôi là một người tử tế ra thì không
khéo bà cụ không bị loà, không những thế mà tôi còn có thể làm cho bà cụ khoẻ
ra! Chính tôi đã làm cho bà mẹ anh trở thành mù loà?
*
Mấy lần
tôi đã bước vào một cửa hiệu cắt tóc sang trọng ngay trong phố nhà tôi mà trước
đây tôi vẫn thường cắt, nhưng lại lấy cớ này cớ nọ, quay trở ra. mấy lần tôi đã
định “tẩu thoát”. Nhưng chính tôi lại bắt giữ tôi lại. Tôi lại kiên nhẫn tự
thuyết phục mình một cách xử trí êm nhất: đừng bao giờ đặt
chân đến trước mặt người thợ cắt tóc và bà mẹ anh ta nữa. Người ta đã dời cái
quán đến một phố khác. Lần trước anh thợ đã nhận ra cái mặt của anh rồi. Thì
lúc này là cơ hội “tẩu thoát” êm nhất. Cái người săn đuổi mình đã rẽ sang lối khác
thì mình lại cũng rẽ vào đấy làm gì? Nhưng anh có đuổi theo tôi đâu? Đấy là tôi
muốn tự nguyện đến nạp mình, cho lương tâm.
Tôi lại
tiếp tục dụ dỗ: sau hàng chục năm ở bộ đội, anh ấy lại trở về làm cái nghề cũ.
Chắc hoàn cảnh kinh tế của gia đình cũng khó khăn. Tôi nghĩ đến việc hay là vay
mượn gom góp một số tiền lớn, cái số tiền mà tôi đã thu được nhờ bức ký hoạ
chân dung kia, bí mật gửi cho anh. Vẫn không được! Tôi vẫn không
cho phép mình lấy đồng tiền để thay cái mặt mình.
Tôi lại
đạp xe đến gần cái nơi anh mới dời đến. Chỗ đó là đầu một cái ngõ ăn ra một
đường phố nhỉnh hơn phố cũ. Chỗ làm mới cũng xoàng xĩnh như chỗ cũ, chỉ hơn
trước có
bức mành che. Thỉnh thoảng tôi lại đạp xe qua, đá cái mặt về phía
bức mành, nghe tiếng tông đơ rỉa tanh tách, và liếc nhìn cái dáng người thanh
niên đang đứng
cắt tóc phía sau. Rồi lại phóng xe vút qua đi.
- Cái anh
thợ cắt tóc ở đây dời chỗ làm rồi, phải không bà? – Tôi vờ hỏi bà chủ quán nước
ở cái ngõ cũ trong khi ngồi chen giữ một đám đông khách uống nước, hút thuốc và
kháo chuyện vặt.
- Anh ấy
dời phố ra ngoài. Cách mấy ngõ thôi. Chắc ông là khách quen?
- Thưa
vâng.
- Cái
thằng T. cắt tóc, số nó nhờ được con vợ! – Một người khách bình phẩm.
- Thì còn
phải nói! – Bà chủ quán cũng nói xen vào – ngày xưa khi anh ấy còn ở bộ đội
trong B, tuy chỉ là chỗ láng giềng thôi, nhưng cô ấy chưam sóc bà cụ lúc ốm đau
chẳng khác con cái trong nhà. Về sau anh ấy trở về cũng vì cảm phục tấm lòng mà
lấy.
- Ông
trời sinh ra con người cũng lạ. Có người tốt vậy. Có đứa đểu cáng lật lọng hết
chỗ nói.
Cái đầu
tóc tôi đã tốt quá, ngứa không chịu được! Mà tại sao lại cứ muốn giở chứng, cứ
tự đem mình ra mà hành vậy? Tại sao lại cứ muốn tự dẫn xác đến cái quán ấy cơ
chứ? Ngay buổi sáng đó, tôi đạp xe trở về dưới phố nhà tôi, lập tức đến cắt tóc
ở cái hiệu quen đã mấy năm nay. Thật là thoải mái, dễ chịu. Trời lại nắng nhạt,
cũng thật dễ chịu. Cái hiệu quen sạch sẽ, thơm phức. Bác thợ kêu ầm lên chắc
hồi này nhà hoạ sĩ bận lắm, bận lắm, mấy lần đến rồi lại không có thì giờ cắt,
để cho cái đầu trở thành một khóm rừng! Bác thợ quen lại còn khuyên tôi nên làm
việc có điều độ. Tôi lại vui vẻ “đấu hót” với bác như mọi lần trước kia. Thật
là vui. Phải nói đây là người thợ cắt tóc giỏi nhất thành phố, làm rất cẩn
thận, lại rất quý tôi. Được cắt tóc cho một nhà ông hoạ sĩ! Bác cẩn thận, cân
nhắc từng nhát dao, nhát kéo. Bác nâng niu cái đầu, cái mặt tôi. Những ngón tay
sờ đụng vào cái đầu, cái mặt tôi như đang sờ đụng vào một vật rất quý.
Thế nhưng
tôi cũng trở lại cắt ở đấy chỉ có một lần đó. Tôi quyết định phải trở lại cái
quán kia. Tôi quyết định phải chường cái mặt mình ra, chứ không chịu lẩn tránh.
Tôi không cho phép tôi chạy trốn. Tôi quyết định phải trở lại đấy vào buổi
sáng, và đến thật sớm, lúc chỉ có tôi và anh. Để cho anh có hoàn cảnh thuận
tiện chỉ vào cái mặt tôi mà hỏi: “Bác là cái nhà ông hoạ sĩ ngày xưa đấy ư? Bác
đã làm cho bà mẹ tôi khóc hết nước mắt để trở thành mù loà như thế kia? Được
rồi, vậy thì xin mời ngồi vào đây!”.
Bên trong
bức mành vẫn chỉ thấy bày chừng ấy thứ đồ đạc: chiếc ghế mộc, chiếc khăn choàng
sạch sẽ vắt trên thành ghế, chiếc bàn con để bánh xà phòng htơm và mấy thứ chai
lọ, tấm gương soi mặt khách, phía trên tấm gương vẫn dán bức chân dung người
thợ cắt tóc tám năm trước. Anh thợ của tôi ngồi quay lưng ra, một chân vắt lên
thành ghế, đang ăn một vắt xôi gói trong cái lá bàng. Bà mẹ anh cũng có mặt,
ngồi xổm cầm chiếc vồ đập những hòn gạch vỡ lèn chặt xuống nền đất. Bà cụ lại
ngước mắt nhìn lên tôi như lần trước khuôn mặt đờ đẫn và hoan hỉ:
- Thưa
ông đến cắt tóc?
- Vâng ạ!
Tôi có
cảm giác hồi hộp của một anh bộ đội giữa trận đánh đồn vừa vượt qua lớp lớp
hàng rào để bám được vào cái đột phá khẩu. Lúc ban nãy, khi đạp xe vừa chớm đến
quãng đường phố ngang với bức mành, chỉ chút xíu nữa là tôi đã nhấn mạnh chân
vào bàn đạp cho bánh xe lăn thật nhanh như mọi lần, “Thưa ông đến cắt tóc?”,
“Vâng ạ!” một lần nữa, nếu tôi gieo thêm một chút xíu yếu đuối trên cái mặt cân
tiểu ly vô hình, tôi sẽ không đáp “Vâng ạ!” mà có thể trả lời: “Không ạ” rồi
phóng xe đi thẳng như mọi lần.
Anh thợ
cắt tóc nghe mẹ lên tiếng mới quay người lại. Tôi vừa kịp nhận ra được từ nơi
cặp mắt vẫn còn trẻ của anh chiếu thẳng về phía tôi một cái nhìn ban đầu soi
mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại. Nhưng những diễn biến phản ứng trên
cái mặt người thợ chỉ diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại
trở lại vẻ mặt và cử chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc
đứng đắn và yêu nghề.
Da mặt
tôi tư nhiên dày cộm lên.
- Mời bác
ngồi!
Tôi cố
trấn tĩnh để khỏi run lập cập, bước tới ngồi vào cái ghế gỗ như một cái ghế tra
điện.
- Bác vẫn
cắt như cũ?
- Vâng.
Bàn tay
người thợ ấn
cái gáy tôi xuống. Tôi trông thấy hai ống quần quây phục đã cũ kỹ và đôi bàn
chân xỏ trong dép cao su. Bà mẹ anh vẫn ngồi bên cạnh cái ghế cắt tóc, bàn tay
dăn deo vừa sờ soạng trên mặt đất, vừa cầm chiếc vồ nện lên những viên gạch
chan chát, nhát trúng nhát trật.
Từng mảng
tóc trên đầu tôi rớt xuống. Tôi có cảm giác tôi đang ngồi cho người thợ giải
phẫu não, mà không đánh thuốc mê.
Rồi người
thợ cắt tóc, một tay nâng ngửa cái mặt tôi lên, một tay cầm lấy con dao nhỏ
sáng loáng. Tôi khẽ liếc mắt thấy lưỡi dao sắc lẹm, vậy mà anh vẫn đem mài đi
mài lại trên một tấm da. Tôi khắc khoải nằm ngửa mặt chờ. Tôi khẽ thử động đậy
cái gáy, nó như đã bị chốt vào miếng gỗ lõm có lót da. Ngay trước mắt tôi vẫn
là cái bộ mặt thật của tôi vừa được lột khỏi ra cái mặt nạ hàng ngày, đang phản
chiếu trong tấm gương.
“Hàng
ngày anh vẫn nói đùa một cách độc đáo với bạn rằng: tạo hoá nặn ra muôn loài,
mỗi loài bằng một thứ bột nhão riêng khác nhau. Xong rồi mỗi thứ thừa một tý,
đem gộp chung tất cả lại, để nặn ra anh?”.
“Có lẽ
thật thế, trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng
phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ?”.
“Bây giờ
trước mặt tôi, anh nghĩ thế nào về cái luật công bằng ở đời của anh: cho thế
nào thì nhận thế nấy?”.
“Tôi xin
nhận đã gây nên đau khổ cho bà mẹ anh. Tôi đã lừa dối anh. Tôi đã thu thêm được
tiền của
và tiếng tăm trên sự đau đớn của anh. Bây giờ anh cứ trừng phạt
tôi. Anh xử tôi thế nào cũng được!”.
“Không
bao giờ! Nếu tôi xử phạt anh, nếu tôi thực hiện cái quan niệm về luật công bằng
ở đời của anh, thì cái hôm đó, tám năm trước đây, khi quay lại đón anh giữa
suối, tôi đã xốc ngược anh lên rồi vứt tõm vào khúc suối giữa bãi đá tai mèo
rồi!”.
“Lần này
anh lại đối xử với tôi như lần trước đây?”.
“Phải”.
“Anh cũng
không trách
mắng, chỉ trán chỉ mặt tôi?”
“Không!
Anh cứ yên tâm. Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều
cống hiến cho xã hội”.
“Anh nhận
ra tôi từ lúc nào? Trong mấy lần tôi đến đây?”.
“Tôi vẫn
thường gặp mặt anh ở ngoài đường luôn luôn đấy chứ! Một lần tôi đứng xem anh ký
hoạ khu phố cổ. Một lần tôi đến xem phòng trưng bày của anh. Một lần khác, tôi
đi theo mấy người bạn làm xưởng vô tuyến truyền hình đến quay chỗ xưởng làm
việc và gian phòng riêng của anh. Anh không nhận ra được tôi đấy mà thôi!
“Bây giờ
anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi!”.
“Không”.
“Tôi có
phải cút khỏi đây không?”
“Không.
Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!”.
Phải, giả
thử lần thứ nhất tôi đến, hoặc lần thứ hai trở lại, và các lần sau nữa, mà
người thợ ấy nổi giận đuổi tôi ra khỏi ngôi quán, thì chắc chắn tôi không đủ
thì giờ nhìn kỹ cái mặt mình đến như thế. Gần nửa năm, tôi đã để vào bức tranh
sơn dầu tất cả công sức và sự suy nghĩ, và trong suốt thời gian ấy, một đôi lần
tôi cũng gợi lại chuyện cũ nhưng người thợ vẫn một mực cố tỏ ra chưa hề có bao
giờ quen biết tôi. Trở về làm một anh thợ cắt tóc cũng như lúc ở bộ đội, anh
vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công
việc đã làm. Lời đề nghị rụt rè của anh: Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút
cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình.
Bây giờ
thì cái tác phẩm mới của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình, để
viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội hoạ thể hiện
một cái mặt người rất lớn: những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và
trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa mái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí
ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt, thoạt trông như một phần bộ óc màu xám vừa bị mổ
phanh ra. Phần bên dưới khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt
nạ: dưới cằm và hai bên mép phủ kín bọt xà phòng. Không trông rõ miệng chỉ thấy
một vệt màu đen lờ mờ nổi bồng bềnh trên những đám bọt xà phòng. Và nổi bật
trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc,
đang nhìn vào nội tâm.
N.M.C
Tôi đưa linh hồn em trai - liệt sỹ
Phạm Hữu Tạo từ Hà Giang về quê
Cập nhật: 10:10:00 10/5/2010
Cập nhật: 10:10:00 10/5/2010

Em trai tôi, liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, hy sinh đêm ngày 13 rạng sáng
ngày 14/6 âm lịch tại mặt trận Vị Xuyên Hà Giang; giấy báo tử ghi hy sinh ngày
12/7/1984 kèm theo giòng chữ: Do tình chất trận chiến đấu ác liệt không lấy
được thi hài...Giòng chữ này đã làm mẹ tôi vật vã hàng chục năm trời vì đau đớn
và vì thương em...
Đầu năm 1985, tôi đã đánh đường lên tận Hà Giang, tìm đến đơn vị cũ của em trai tôi là Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356 để hỏi cụ thể em trai tôi hy sinh trong hoàn cảnh như thế nào?
Hồi đó chiến sự vẫn còn ác liệt, từ Hà Nội tôi bắt xe lên thị xã Hà Giang và đến ở nhờ anh em tại rạp Hạ Long, đơn vị cùng ngành điện ảnh.
Từ rạp Hạ Long-Hà Giang, anh em chở tôi lên tìm đơn vị em trai tôi lúc đó đóng quân phía trên dốc Mã Tin, cách thị xã Hà Giang khoảng 2-3 km. Trên đường đi thỉnh thoảng tôi lại nghe tiếng ùng oàng của pháo Trung Quốc bắn sang. Tôi đến được tận Đại đội của em trai tôi, kịp ăn một bữa cơm trưa với đồng đội của em, hỏi chuyện trận chiến đấu ác liệt mà em trai tôi đã tham gia mà không về.
Tôi không dám nán lại lâu vì theo đồng đội của em trai tôi kể: cách đây một hôm, đại đội này vừa chôn cất 4 liệt sĩ hy sinh khi đang ngồi ăn cơm; pháo Trung Quốc câu sang trúng mâm cơm khiến cho cả 4 đều hy sinh. Đồng đội thu nhặt được thi hài 4 liệt sĩ chỉ còn đủ một bát thịt, chia đều cho 4 mộ liệt sĩ. Nghe câu chuyện này tôi hiểu được chắc em trai tôi cũng nằm trong trường hợp như vậy...
Trận đánh mà em trai tôi tham gia vào ngày 12/7/1984 là trận đánh tấn công lên cao điểm 772, trận quyết chiến nhằm thu hồi lại cao điểm quan trọng này đã bị Trung Quốc đánh chiếm từ năm 1979. Năm 1979 lính Trung Quốc đã sang tới thị xã Hà Giang sau đó rút về nhưng giữu lại 2 cao điểm quan trọng này.
Trận đó ý đồ chiến thuật là định đánh bật sự lấn chiến của Trung Quốc 2 cao điểm chiến lược quan trọng đó là Cao điểm 1509 và Cao điểm 772 nằm tại địa bàn Thanh Thuỷ-Hà Giang: hai con số 1509 và 772 là chỉ độ cao của Cao điểm được đặt tên luôn.
Trận đánh đã thất bại, phía ViệtNam theo đồng đội của em trai tôi
kể lại: có 4 sư đoàn tham gia trận đánh này và không thể nào đánh bật được lính
Trung Quốc vì chúng chiếm cứ trên cao và hoả lực quá mạnh. Bộ đội ta cuối cùng
đành phải lui và chịu nhiều thương vong. Theo thông tin mà tôi nắm được thì đến
nay, điểm cao nhất của 2 cao điểm này Trung Quốc vẫn đang giữ; phía ta chỉ giữ
phần sườn bên này; ai giữ được cao điểm 1509 và 772 thì khống chế được cả
vùng Hà Giang...
Các anh em công tác tại rạp Hạ Long kể với tôi cho biết: trận đánh này kết thúc xong, phải mất 3 đêm liền, người dân Hà Giang vẫn còn thấy xe chạy liên tục để chở các liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang Vị Xuyên.
Theo nhiều bạn bè Hà Giang cho biết: hiện vẫn còn nhiều hài cốt liệt sĩ chưa thu hồi được còn nằm rải rác trên các sườn núi Hà Giang do mìn địch còn cài lại quá nhiều. Thỉnh thoảng người dân Vị Xuyên đi rừng vẫn tìm thấy những mảnh hài cốt còn nằm phơi sương giãi nắng trên các giải biên cương phía bắc...
Khi tôi đến gặp đồng đội cũ của em trai tôi, tại ngay cái trung đội cũ, đồng đội cũ của em trai tôi chứng kiến cảnh em trai tôi hy sinh chỉ còn lại vài ba người...Theo đồng đội em tôi kể lại thì đêm đó, em trai tôi chỉ huy một trung đội đã bò lên chỉ cách địch khoảng vài trăm mét thì địch đã phát hiện và bị pháo địch bắn chặn. Hoả lực mà phía Trung Quôc là loại súng ĐK, mỗi quả đạn là một quả bom dài khoảng 1,2 m... Tại các cao điềm này, phía Trung Quốc bố trí lực lượng phòng thủ theo thế ỷ dốc: tức là từ cao điểm này câu pháo sang yểm trợ và bào vệ cho cac cao điểm bên cạnh nên khá hiệu quả.
Thấy trung đội 1 đi đầu tiến chậm vì hoả lực địch quá mạnh, em trai tôi chỉ huy Trung đội 2 bò lên để tìm nguyên nhân thì bị trúng cả một quả ĐK.
Theo một đồng đội cũ lúc đó thuộc phiên chế Trung đội 3 kể thì: nghe tiếng ĐK nổ đúng vị trí em trai tôi bò lên, khói súng tan, đồng đội không còn thấy em trai tôi nữa mà chỉ thấy báng của khẩu AK bị tan ra, một chiếc thắt lưng và chiếc mũ cối.
Có thể nói là cả Đại đội em trai tôi nằm chết dí cách cao điểm đóng quân của Trung Quốc khoảng vài trăm mét, dưới làn pháo Trung Quốc nã liên tục và không thể nào triển khai trận đánh...Suốt ngày hôm sau ngày 13/7 phía địch vẫn bắn phá dữ dội; còn quân ta thì thấy không thể nào tiến lên được nữa đành phải tìm cách rút lui. Thuần cậu lính đồng hương với em trai tôi, người cùng huyện Tân Kỳ, lúc đó là Trung đội trưởng Trung đội 1 còn nán lại tới tối hôm sau khi đồng đội lui hết mới bò xuồng. Thuần kể với tôi: Cả ngày hôm đó Thuần nằm dưới hố đạn tránh pháo, Thuần quan sát nơi em trai tôi trúng ĐK, chỉ thấy còn lại mấy thứ mà tôi đã kể ở trên...
Câu chuyện đau thương của gia đình tôi trước sự hy sinh của em trai tôi cứ găm vào lòng hết thảy mọi người, nhức nhối không thể nguôi ngoai, nhất là đối với mẹ tôi. Cho đến năm 1996, báo chí đưa tin rầm rộ về khả năng ngoại cảm, tìm mộ của Phan Thị Bích Hằng. Tôi chợt nghĩ tới việc tìm phần hài cốt còn sót lại của em trai tôi: biết đâu lúc đó em trai tôi bị vùi lấp vào đâu đó, nên đồng đội đã không tìm thấy để đưa về. Tôi và bố tôi đã tìm đến nhà Bích Hằng, lúc đó còn ở C 9 Kim Liên.
Số người tìm đến Bích Hăng đông nườm nượp, phải sắp hàng lâu vì mỗi ngày Hằng chỉ có thể giúp được 9-10 người. Theo Hằng dặn, tôi mang đến một tấm ảnh của em trai tôi đã được vẽ truyền thần, Hằng hẹn 1 tháng sau sẽ cho biết kết quả.
Đúng một tháng sau, vợ chồng tôi đến gặp Bích Hằng, Hằng gọi tôi bằng chú, và cho biết: Đã tìm được em trai tôi, hài cốt không còn, hiện linh hồn em trai tôi đang tá túc tại ngã ba sông Lô-sông Miên; em trai tôi rất mong gia đình lên đưa linh hồn em trai tôi về...
Nghe Hằng nói vậy, tôi cảm ơn và trong lòng còn bán tín bán nghi ? Nếu linh hồn em trai tôi còn thì không nhẽ không nhớ được đường về quê sao; người chết thường vẫn có nhiều quyền năng siêu nhiên hơn người sống cơ mà.
Tôi gọi điện hỏi anh chị em ở Sở Văn hoá-Thông tin Hà Tuyên ( lúc đó chưa tách tỉnh); anh em cho biết: Ngã ba Sông Lô-Sông Miện nằm ở ngay thị xã Hà Giang; thời Pháp gọi là Sông Miên, hiện bây giờ dân địa phương gọi là Sông Miện. Bích Hằng chỉ cho tôi biết linh hồn em trai tôi tá túc tại ngã ba sông Lô-sông Miên, hỏi địa điểm này ở đâu thì Hằng không biết...
Nghe anh chị em thông tin như vậy tôi càng bán tín bán nghi vì tôi biết từ thị xã Hà Giang lên Thanh Thuỷ, nơi em trai tôi hy sinh khoảng trên 20 km. Do đó tôi cũng không thực hiện điều Hằng khuyên và coi thông tin của Hằng chỉ để tham khảo vậy thôi. Tôi nhớ dạo đó là vào khoảng tháng 7 năm 1996; sau khi gặp Bích Hằng gia đình tôi gần như không làm gì.
Thế rối một sự cố đến với vợ tôi: từ tháng 8 vợ tôi bị một căn bệnh kỳ lạ. Người tự nhiên kém ăn, khó ngủ, đến khám các bệnh việc, chụp đo đủ kiểu mà không chẩn đoán ra bệnh gì. Người cứ nẫu ra như chuối chín. Trước đó, tức là trước khi gặp Bích Hẳng, vợ tôi vẫn thỉnh thoảng kể với tôi đêm vẫn mơ thấy một người giống tôi về ngồi ở góc giường; tỉnh lại không thấy gì. Vợ tôi nằm mơ thấy rất nhiều lần.
Còn lần này vợ tôi ốm từ tháng 8 cho đến tháng 10, tôi tìm hết thầy hết thuốc mà không chẩn ra bệnh.
Vào một buổi đêm, vợ tôi đánh thức tôi dậy báo cho tôi một giấc mơ lạ. Vợ tôi mơ thấy một người giống tôi nằm lăn khóc ở chợ, trong mơ vợ tôi nghe có tiếng ai đó vọng về: Chú Tạo, chú Tao...
Nghe vợ tôi kể tôi giật mình: đúng rồi, "mạng" đã kết nối mà mình không biết nên chú Tạo nhắc và trách. Hôm sau tôi lại tìm đến nhà Bích Hằng, tôi không kể giấc mơ và tình trạng sức khoẻ của vợ tôi mà chỉ nói với Hằng về trường hợp hy sinh của em tôi. Tôi đề nghị Hằng xem lại lần nữa xem sao vì tôi đã hỏi kỹ địa danh ngã ba sông Lô-sông Miên cách nơi em trai tôi hy sinh hơn 20 km...Hằng hẹn tôi ba ngày sau sẽ cho biết kết quả.
Ba ngày sau tôi quay lại, Hằng cho biết: Linh hồn chú Tạo vẫn tha thiết muốn về quê, gia đình nên lên đón về. Tôi hỏi cách thức, thủ tục. Hằng khuyên lên tại cái ngã ba sông Lô-sông Miên, chú lấy 7 nắm đất, ( bảy vía) đem về. Ở nhà chuẩn bị các thứ như đón hài cốt một liệt sĩ...
Tôi cùng cậu em ở quê tìm lên Hà Giang theo lời khuyên của Bích Hằng. Chúng tôi tìm đến ngã ba sông Lô-sông Miên; ngã ba này nằm kế cạnh chợ Hà Giang. Có thể đây là nơi hàng tuần mồng một ngày rằm bà con thường thắp hương nên các liệt sĩ về đây để tìm hưởng những nén nhang, chút lễ tế chăng trong tình cảnh bơ vơ chưa có được gia đình đón về thờ cúng ?
Trước khi làm lễ để để đón linh hồn em trai tôi vể, tôi đã đi đến các nghĩa trang của Hà Giang, nơi yên nghỉ của các liệt sĩ trong cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Tôi đã thắp hương nhờ các liệt sĩ thông tin hộ về việc tôi lên tìm em trai tôi là liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, liệt sĩ nào biết, nhờ thông tin hộ để em trai tôi có thể theo tôi về. Ngoài đến chỗ nghĩa trang, tôi và em trai tôi, cậu út còn quyết định lên Thanh Thuỷ, tìm đến Cao Điểm 772 để thắp hương và để tìm đón linh hồn em tôi. Từ đồn biên phòng Thanh Thuỷ, theo chỉ dẫn của bộ đội biên phòng, chúng tôi men theo đường mòn để tìm đến cao điểm 772 nơi em trai tôi hy sinh.
Từ đồn biên phòng lên đến Cao Điềm này mất 6-7 km; trên đường đi thỉnh thoảng lại gặp một vài chàng trai Mông xách dao quắm, tôi và em trai tôi lạnh người: họ mà giơ giao bảo anh em mình đưa máy ảnh cho họ, chắc không thể từ chối. Vừa đi vừa hỏi người gặp trên đường đi về Cao Điểm 772. Cuối cùng thì anh em tôi cũng tìm tới đến gần chân cao điểm này chứ không còn đủ sức leo lên. Dọc đường, dấu vết chiến hào xưa vẫn còn nguyên. Tôi thắp hương bái vọng và khấn bày tỏ nguyện vọng tìm được linh hồn em trai tôi để đưa về quê hương khói...
Năm 1985, còn nhớ khi từ Hà Giang về, ra ở bến xe tôi có khấn rằng tôi đã lên tìm em trai tôi, liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, sau đó quay về Hà Nội. Có lẽ vợ tôi thường nằm mơ thấy em tôi do em tôi chỉ biết đường về tới nhà tôi, hồi đó tôi còn ở Ngã Tư Sở...
Sau khi thắp hương nhiều nơi bái vọng, tôi và chú út quay về ngã ba sông Lô-sông Miên làm thủ tục để đón linh hồn em tôi về sau hơn 10 năm bơ vơ, gia đình vẫn hương khói nhưng không được hưởng. Tôi đưa thẳng 7 nắm đất lấy ở ngã ba sông Lô-sông Miên gói ghém cẩn thận và đưa thằng về quê.
Điểm giao nhau của 2 con sông này: một con sông đục đó là sông Lô, còn sông Miên lại trong, thành ra nhìn rõ điểm hợp lưu hai giòng trong đục của 2 con sông...
Một điều hơi lạ là khi tôi thắp hương để báo tin việc đón linh hồn em tôi thì thấy tự nhiên có chiếc thuyền máy chạy qua, thấy cảnh cúng giữa sông, những người trên thuyền dừng lại xem. Tôi đã chụp ảnh lại.
Tôi đưa 7 nắm đất lấy ở ngã ba sông Lô-sông Miện về nhà tại Tân Kỳ-Nghệ An, ở nhà bố mẹ tôi đã chuẩn bị tiểu sành, quả dừa, ít hom dâu cho vào và liệm như liệm hài cốt để chuẩn bị đưa ra nghĩa trang của huyện.
Đêm hôm đó độ 10 giờ mẹ tôi chợt đề nghị: Đưa em tôi về thì phải làm lễ cầu hồn xem chú có về được không hay lạc ở đâu. Mọi người tán thành. Vì ngoài họ hàng anh em còn có hàng xóm láng giềng đến khá đông. Thế là một lễ cầu hồn cho em trai tôi được tổ chức.
Người đứng ra làm chủ tế là ông dượng và ông bố vợ tôi có biết ít chút kinh kệ và không phải là thầy cúng chuyên nghiệp. Còn tôi thì vì đi đường mệt, tôi đi thẳng từ Hà Giang về tận Tân Kỳ, tôi cáo vào nhà ngủ để mẹ tôi và bà con hàng xóm tổ chức lễ cầu hồn cho em trai tôi. Người ngồi đồng là anh trai tôi. Mọi người lấy tấm vải đỏ trùm lên mặt, còn ông dượng và bố vợ tôi thay nhau đọc kinh...
Lễ tổ chức tới gần 1 giờ sáng mà vẫn không thấy gì. Chợt ai đó nói: Có khi phải ông Đào ngồi đồng thì hồn mới nhập, ông Đào đưa về lại anh ruột, còn anh trai là anh cùng cha khác mẹ. Mẹ tôi liền vào đánh thức tôi dậy. Ngủ được 1 giấc, người tôi cũng có phần đỡ mệt. Chiều mẹ tôi, tôi ra ngồi đồng thử xem sao. Tôi nhớ lúc tôi ngồi khoảng 1 giờ 30 phút gì đó. Tôi ngồi khoảng độ nửa giờ, thấy mẹ tôi cứ thảm thiết đi quanh chiếc tiểu sành: nếu con về con phải cho mẹ biết hay con còn lạc đi đâu. Lúc đó tôi cũng thấy mủi lòng định làm một động tác gì đấy giả như em tôi về để mẹ tôi đỡ tủi...
Tôi đang miên man như vậy, trong khi đó ông dượng tôi đang cúng bằng bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, tôi nhớ khi đó dượng tôi đọc tới câu:" Quỷ không đầu ngồi khóc đêm mưa; Mỗi khi thay đổi sơn hà..."
Tôi chợt nghe tiếng huỵch, mọi người ngơ ngác thì ra ông chú tôi từ rất lâu mọi người thấy cứ gật gật, lắc lắc ở trên thềm như ngài ngủ. Tự nhiên ông bật mình như lò xo từ trên thềm ra tới giữa sân. Tôi gỡ mảnh vải đỏ ra thấy ông xoay tít trông rất dẻo; cái điệu xoay này giống như các vở chèo các diễn viên thường biểu diễn trên sân khấu. Chú tôi ở quê chưa xem chèo bao giờ.
Các diễn viên chèo khi thể hiện việc nhập đồng dù tài nghệ đến đâu cái sự xoay này vẫn gường gượng. Còn chú tôi lúc đó đã gần 70 tuổi, xoay rất tít và rất dẻo, xoay gần sát đất như con quay. Vừa xoay vừa khóc kể bấy lâu nay đói khát, quần áo cháy hết, nghĩa là rất khổ. Chú cảm ơn anh chị đã đưa được chú về. Mặc dù sau ngày em trai tôi hy sinh gia đình vẫn làm giỗ và thắp hương nhưng hồn không về được. Lúc đó vợ tôi nhanh trí hỏi được mấy câu, em tôi trả lời rất đúng giọng. Hồn em tôi đã nhập vào ông chú tôi, mặc dù người ngồi đồng là tôi. Lúc đó có khoảng vài chục người chứng kiến...
Hồn nhập vào khoảng 2,3 phút, theo kinh nghiệm nhiều người là liên tiếp hỏi thì sẽ giữ được hồn lại, nhưng mọi người không ai hỏi và cứ chờ em tôi tự kể nên hồn chỉ dừng lại vài phút rồi thăng.Theo lời em trai tôi thì cùng về với em trai tôi có rất nhiều đồng đội theo về. Có nghĩa là vẫn còn rất nhiều linh hồn hiện còn bơ vơ tại Hà Giang chưa có người thân đón về để hương khói. Khi chưa đón được về thì mọi sự cúng tế đều không hiệu quả...
Sau khi đem được linh hồn em trai tôi về, vợ tôi khỏi hoàn toàn bệnh tật và không còn mơ thấy gì nữa. Gia đình tôi từ khi rước được linh hồn em tôi về nghĩa trang huyện Tân Kỳ mọi việc riêng tư đều cảm thấy hanh thông, nhiều tai ương đều được hạn chế ở mức thấp nhất..
Tôi kể chuyện này hoàn toàn do chính tôi chứng kiến và xin coi là một nén tâm nhang nhân ngày 27/7: Ngày thương binh liệt sĩ giành cho em trai tôi và những linh hồn của biết bao người lính hiện còn bơ vơ chưa được người thân đưa về nơi bản quán để phụng thờ hương khói.
Những anh hùng liệt sĩ của đất nước này thể xác của họ có thể bị vùi lấp, trở về với cát bụi nhưng linh hồn của họ vẫn còn song hành với chúng ta; họ không bao giờ mất nên không một ai được phép quên họ...Ai cố tình quên họ chắc chắn khó tránh khỏi tai ương. Đó là điều mà tôi chiêm nghiệm qua chuyện gia đình tôi.
Kỳ sau tôi sẽ kể những chuyện tai ương mà tôi và vợ tôi đã tránh được một cách kỳ lạ hình như có ai đó đỡ đần phù trợ...
P.V.Đ
Đầu năm 1985, tôi đã đánh đường lên tận Hà Giang, tìm đến đơn vị cũ của em trai tôi là Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356 để hỏi cụ thể em trai tôi hy sinh trong hoàn cảnh như thế nào?
Hồi đó chiến sự vẫn còn ác liệt, từ Hà Nội tôi bắt xe lên thị xã Hà Giang và đến ở nhờ anh em tại rạp Hạ Long, đơn vị cùng ngành điện ảnh.
Từ rạp Hạ Long-Hà Giang, anh em chở tôi lên tìm đơn vị em trai tôi lúc đó đóng quân phía trên dốc Mã Tin, cách thị xã Hà Giang khoảng 2-3 km. Trên đường đi thỉnh thoảng tôi lại nghe tiếng ùng oàng của pháo Trung Quốc bắn sang. Tôi đến được tận Đại đội của em trai tôi, kịp ăn một bữa cơm trưa với đồng đội của em, hỏi chuyện trận chiến đấu ác liệt mà em trai tôi đã tham gia mà không về.
Tôi không dám nán lại lâu vì theo đồng đội của em trai tôi kể: cách đây một hôm, đại đội này vừa chôn cất 4 liệt sĩ hy sinh khi đang ngồi ăn cơm; pháo Trung Quốc câu sang trúng mâm cơm khiến cho cả 4 đều hy sinh. Đồng đội thu nhặt được thi hài 4 liệt sĩ chỉ còn đủ một bát thịt, chia đều cho 4 mộ liệt sĩ. Nghe câu chuyện này tôi hiểu được chắc em trai tôi cũng nằm trong trường hợp như vậy...
Trận đánh mà em trai tôi tham gia vào ngày 12/7/1984 là trận đánh tấn công lên cao điểm 772, trận quyết chiến nhằm thu hồi lại cao điểm quan trọng này đã bị Trung Quốc đánh chiếm từ năm 1979. Năm 1979 lính Trung Quốc đã sang tới thị xã Hà Giang sau đó rút về nhưng giữu lại 2 cao điểm quan trọng này.
Trận đó ý đồ chiến thuật là định đánh bật sự lấn chiến của Trung Quốc 2 cao điểm chiến lược quan trọng đó là Cao điểm 1509 và Cao điểm 772 nằm tại địa bàn Thanh Thuỷ-Hà Giang: hai con số 1509 và 772 là chỉ độ cao của Cao điểm được đặt tên luôn.
Trận đánh đã thất bại, phía Việt
Các anh em công tác tại rạp Hạ Long kể với tôi cho biết: trận đánh này kết thúc xong, phải mất 3 đêm liền, người dân Hà Giang vẫn còn thấy xe chạy liên tục để chở các liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang Vị Xuyên.
Theo nhiều bạn bè Hà Giang cho biết: hiện vẫn còn nhiều hài cốt liệt sĩ chưa thu hồi được còn nằm rải rác trên các sườn núi Hà Giang do mìn địch còn cài lại quá nhiều. Thỉnh thoảng người dân Vị Xuyên đi rừng vẫn tìm thấy những mảnh hài cốt còn nằm phơi sương giãi nắng trên các giải biên cương phía bắc...
Khi tôi đến gặp đồng đội cũ của em trai tôi, tại ngay cái trung đội cũ, đồng đội cũ của em trai tôi chứng kiến cảnh em trai tôi hy sinh chỉ còn lại vài ba người...Theo đồng đội em tôi kể lại thì đêm đó, em trai tôi chỉ huy một trung đội đã bò lên chỉ cách địch khoảng vài trăm mét thì địch đã phát hiện và bị pháo địch bắn chặn. Hoả lực mà phía Trung Quôc là loại súng ĐK, mỗi quả đạn là một quả bom dài khoảng 1,2 m... Tại các cao điềm này, phía Trung Quốc bố trí lực lượng phòng thủ theo thế ỷ dốc: tức là từ cao điểm này câu pháo sang yểm trợ và bào vệ cho cac cao điểm bên cạnh nên khá hiệu quả.
Thấy trung đội 1 đi đầu tiến chậm vì hoả lực địch quá mạnh, em trai tôi chỉ huy Trung đội 2 bò lên để tìm nguyên nhân thì bị trúng cả một quả ĐK.
Theo một đồng đội cũ lúc đó thuộc phiên chế Trung đội 3 kể thì: nghe tiếng ĐK nổ đúng vị trí em trai tôi bò lên, khói súng tan, đồng đội không còn thấy em trai tôi nữa mà chỉ thấy báng của khẩu AK bị tan ra, một chiếc thắt lưng và chiếc mũ cối.
Có thể nói là cả Đại đội em trai tôi nằm chết dí cách cao điểm đóng quân của Trung Quốc khoảng vài trăm mét, dưới làn pháo Trung Quốc nã liên tục và không thể nào triển khai trận đánh...Suốt ngày hôm sau ngày 13/7 phía địch vẫn bắn phá dữ dội; còn quân ta thì thấy không thể nào tiến lên được nữa đành phải tìm cách rút lui. Thuần cậu lính đồng hương với em trai tôi, người cùng huyện Tân Kỳ, lúc đó là Trung đội trưởng Trung đội 1 còn nán lại tới tối hôm sau khi đồng đội lui hết mới bò xuồng. Thuần kể với tôi: Cả ngày hôm đó Thuần nằm dưới hố đạn tránh pháo, Thuần quan sát nơi em trai tôi trúng ĐK, chỉ thấy còn lại mấy thứ mà tôi đã kể ở trên...
Câu chuyện đau thương của gia đình tôi trước sự hy sinh của em trai tôi cứ găm vào lòng hết thảy mọi người, nhức nhối không thể nguôi ngoai, nhất là đối với mẹ tôi. Cho đến năm 1996, báo chí đưa tin rầm rộ về khả năng ngoại cảm, tìm mộ của Phan Thị Bích Hằng. Tôi chợt nghĩ tới việc tìm phần hài cốt còn sót lại của em trai tôi: biết đâu lúc đó em trai tôi bị vùi lấp vào đâu đó, nên đồng đội đã không tìm thấy để đưa về. Tôi và bố tôi đã tìm đến nhà Bích Hằng, lúc đó còn ở C 9 Kim Liên.
Số người tìm đến Bích Hăng đông nườm nượp, phải sắp hàng lâu vì mỗi ngày Hằng chỉ có thể giúp được 9-10 người. Theo Hằng dặn, tôi mang đến một tấm ảnh của em trai tôi đã được vẽ truyền thần, Hằng hẹn 1 tháng sau sẽ cho biết kết quả.
Đúng một tháng sau, vợ chồng tôi đến gặp Bích Hằng, Hằng gọi tôi bằng chú, và cho biết: Đã tìm được em trai tôi, hài cốt không còn, hiện linh hồn em trai tôi đang tá túc tại ngã ba sông Lô-sông Miên; em trai tôi rất mong gia đình lên đưa linh hồn em trai tôi về...
Nghe Hằng nói vậy, tôi cảm ơn và trong lòng còn bán tín bán nghi ? Nếu linh hồn em trai tôi còn thì không nhẽ không nhớ được đường về quê sao; người chết thường vẫn có nhiều quyền năng siêu nhiên hơn người sống cơ mà.
Tôi gọi điện hỏi anh chị em ở Sở Văn hoá-Thông tin Hà Tuyên ( lúc đó chưa tách tỉnh); anh em cho biết: Ngã ba Sông Lô-Sông Miện nằm ở ngay thị xã Hà Giang; thời Pháp gọi là Sông Miên, hiện bây giờ dân địa phương gọi là Sông Miện. Bích Hằng chỉ cho tôi biết linh hồn em trai tôi tá túc tại ngã ba sông Lô-sông Miên, hỏi địa điểm này ở đâu thì Hằng không biết...
Nghe anh chị em thông tin như vậy tôi càng bán tín bán nghi vì tôi biết từ thị xã Hà Giang lên Thanh Thuỷ, nơi em trai tôi hy sinh khoảng trên 20 km. Do đó tôi cũng không thực hiện điều Hằng khuyên và coi thông tin của Hằng chỉ để tham khảo vậy thôi. Tôi nhớ dạo đó là vào khoảng tháng 7 năm 1996; sau khi gặp Bích Hằng gia đình tôi gần như không làm gì.
Thế rối một sự cố đến với vợ tôi: từ tháng 8 vợ tôi bị một căn bệnh kỳ lạ. Người tự nhiên kém ăn, khó ngủ, đến khám các bệnh việc, chụp đo đủ kiểu mà không chẩn đoán ra bệnh gì. Người cứ nẫu ra như chuối chín. Trước đó, tức là trước khi gặp Bích Hẳng, vợ tôi vẫn thỉnh thoảng kể với tôi đêm vẫn mơ thấy một người giống tôi về ngồi ở góc giường; tỉnh lại không thấy gì. Vợ tôi nằm mơ thấy rất nhiều lần.
Còn lần này vợ tôi ốm từ tháng 8 cho đến tháng 10, tôi tìm hết thầy hết thuốc mà không chẩn ra bệnh.
Vào một buổi đêm, vợ tôi đánh thức tôi dậy báo cho tôi một giấc mơ lạ. Vợ tôi mơ thấy một người giống tôi nằm lăn khóc ở chợ, trong mơ vợ tôi nghe có tiếng ai đó vọng về: Chú Tạo, chú Tao...
Nghe vợ tôi kể tôi giật mình: đúng rồi, "mạng" đã kết nối mà mình không biết nên chú Tạo nhắc và trách. Hôm sau tôi lại tìm đến nhà Bích Hằng, tôi không kể giấc mơ và tình trạng sức khoẻ của vợ tôi mà chỉ nói với Hằng về trường hợp hy sinh của em tôi. Tôi đề nghị Hằng xem lại lần nữa xem sao vì tôi đã hỏi kỹ địa danh ngã ba sông Lô-sông Miên cách nơi em trai tôi hy sinh hơn 20 km...Hằng hẹn tôi ba ngày sau sẽ cho biết kết quả.
Ba ngày sau tôi quay lại, Hằng cho biết: Linh hồn chú Tạo vẫn tha thiết muốn về quê, gia đình nên lên đón về. Tôi hỏi cách thức, thủ tục. Hằng khuyên lên tại cái ngã ba sông Lô-sông Miên, chú lấy 7 nắm đất, ( bảy vía) đem về. Ở nhà chuẩn bị các thứ như đón hài cốt một liệt sĩ...
Tôi cùng cậu em ở quê tìm lên Hà Giang theo lời khuyên của Bích Hằng. Chúng tôi tìm đến ngã ba sông Lô-sông Miên; ngã ba này nằm kế cạnh chợ Hà Giang. Có thể đây là nơi hàng tuần mồng một ngày rằm bà con thường thắp hương nên các liệt sĩ về đây để tìm hưởng những nén nhang, chút lễ tế chăng trong tình cảnh bơ vơ chưa có được gia đình đón về thờ cúng ?
Trước khi làm lễ để để đón linh hồn em trai tôi vể, tôi đã đi đến các nghĩa trang của Hà Giang, nơi yên nghỉ của các liệt sĩ trong cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Tôi đã thắp hương nhờ các liệt sĩ thông tin hộ về việc tôi lên tìm em trai tôi là liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, liệt sĩ nào biết, nhờ thông tin hộ để em trai tôi có thể theo tôi về. Ngoài đến chỗ nghĩa trang, tôi và em trai tôi, cậu út còn quyết định lên Thanh Thuỷ, tìm đến Cao Điểm 772 để thắp hương và để tìm đón linh hồn em tôi. Từ đồn biên phòng Thanh Thuỷ, theo chỉ dẫn của bộ đội biên phòng, chúng tôi men theo đường mòn để tìm đến cao điểm 772 nơi em trai tôi hy sinh.
Từ đồn biên phòng lên đến Cao Điềm này mất 6-7 km; trên đường đi thỉnh thoảng lại gặp một vài chàng trai Mông xách dao quắm, tôi và em trai tôi lạnh người: họ mà giơ giao bảo anh em mình đưa máy ảnh cho họ, chắc không thể từ chối. Vừa đi vừa hỏi người gặp trên đường đi về Cao Điểm 772. Cuối cùng thì anh em tôi cũng tìm tới đến gần chân cao điểm này chứ không còn đủ sức leo lên. Dọc đường, dấu vết chiến hào xưa vẫn còn nguyên. Tôi thắp hương bái vọng và khấn bày tỏ nguyện vọng tìm được linh hồn em trai tôi để đưa về quê hương khói...
Năm 1985, còn nhớ khi từ Hà Giang về, ra ở bến xe tôi có khấn rằng tôi đã lên tìm em trai tôi, liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, sau đó quay về Hà Nội. Có lẽ vợ tôi thường nằm mơ thấy em tôi do em tôi chỉ biết đường về tới nhà tôi, hồi đó tôi còn ở Ngã Tư Sở...
Sau khi thắp hương nhiều nơi bái vọng, tôi và chú út quay về ngã ba sông Lô-sông Miên làm thủ tục để đón linh hồn em tôi về sau hơn 10 năm bơ vơ, gia đình vẫn hương khói nhưng không được hưởng. Tôi đưa thẳng 7 nắm đất lấy ở ngã ba sông Lô-sông Miên gói ghém cẩn thận và đưa thằng về quê.
Điểm giao nhau của 2 con sông này: một con sông đục đó là sông Lô, còn sông Miên lại trong, thành ra nhìn rõ điểm hợp lưu hai giòng trong đục của 2 con sông...
Một điều hơi lạ là khi tôi thắp hương để báo tin việc đón linh hồn em tôi thì thấy tự nhiên có chiếc thuyền máy chạy qua, thấy cảnh cúng giữa sông, những người trên thuyền dừng lại xem. Tôi đã chụp ảnh lại.
Tôi đưa 7 nắm đất lấy ở ngã ba sông Lô-sông Miện về nhà tại Tân Kỳ-Nghệ An, ở nhà bố mẹ tôi đã chuẩn bị tiểu sành, quả dừa, ít hom dâu cho vào và liệm như liệm hài cốt để chuẩn bị đưa ra nghĩa trang của huyện.
Đêm hôm đó độ 10 giờ mẹ tôi chợt đề nghị: Đưa em tôi về thì phải làm lễ cầu hồn xem chú có về được không hay lạc ở đâu. Mọi người tán thành. Vì ngoài họ hàng anh em còn có hàng xóm láng giềng đến khá đông. Thế là một lễ cầu hồn cho em trai tôi được tổ chức.
Người đứng ra làm chủ tế là ông dượng và ông bố vợ tôi có biết ít chút kinh kệ và không phải là thầy cúng chuyên nghiệp. Còn tôi thì vì đi đường mệt, tôi đi thẳng từ Hà Giang về tận Tân Kỳ, tôi cáo vào nhà ngủ để mẹ tôi và bà con hàng xóm tổ chức lễ cầu hồn cho em trai tôi. Người ngồi đồng là anh trai tôi. Mọi người lấy tấm vải đỏ trùm lên mặt, còn ông dượng và bố vợ tôi thay nhau đọc kinh...
Lễ tổ chức tới gần 1 giờ sáng mà vẫn không thấy gì. Chợt ai đó nói: Có khi phải ông Đào ngồi đồng thì hồn mới nhập, ông Đào đưa về lại anh ruột, còn anh trai là anh cùng cha khác mẹ. Mẹ tôi liền vào đánh thức tôi dậy. Ngủ được 1 giấc, người tôi cũng có phần đỡ mệt. Chiều mẹ tôi, tôi ra ngồi đồng thử xem sao. Tôi nhớ lúc tôi ngồi khoảng 1 giờ 30 phút gì đó. Tôi ngồi khoảng độ nửa giờ, thấy mẹ tôi cứ thảm thiết đi quanh chiếc tiểu sành: nếu con về con phải cho mẹ biết hay con còn lạc đi đâu. Lúc đó tôi cũng thấy mủi lòng định làm một động tác gì đấy giả như em tôi về để mẹ tôi đỡ tủi...
Tôi đang miên man như vậy, trong khi đó ông dượng tôi đang cúng bằng bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, tôi nhớ khi đó dượng tôi đọc tới câu:" Quỷ không đầu ngồi khóc đêm mưa; Mỗi khi thay đổi sơn hà..."
Tôi chợt nghe tiếng huỵch, mọi người ngơ ngác thì ra ông chú tôi từ rất lâu mọi người thấy cứ gật gật, lắc lắc ở trên thềm như ngài ngủ. Tự nhiên ông bật mình như lò xo từ trên thềm ra tới giữa sân. Tôi gỡ mảnh vải đỏ ra thấy ông xoay tít trông rất dẻo; cái điệu xoay này giống như các vở chèo các diễn viên thường biểu diễn trên sân khấu. Chú tôi ở quê chưa xem chèo bao giờ.
Các diễn viên chèo khi thể hiện việc nhập đồng dù tài nghệ đến đâu cái sự xoay này vẫn gường gượng. Còn chú tôi lúc đó đã gần 70 tuổi, xoay rất tít và rất dẻo, xoay gần sát đất như con quay. Vừa xoay vừa khóc kể bấy lâu nay đói khát, quần áo cháy hết, nghĩa là rất khổ. Chú cảm ơn anh chị đã đưa được chú về. Mặc dù sau ngày em trai tôi hy sinh gia đình vẫn làm giỗ và thắp hương nhưng hồn không về được. Lúc đó vợ tôi nhanh trí hỏi được mấy câu, em tôi trả lời rất đúng giọng. Hồn em tôi đã nhập vào ông chú tôi, mặc dù người ngồi đồng là tôi. Lúc đó có khoảng vài chục người chứng kiến...
Hồn nhập vào khoảng 2,3 phút, theo kinh nghiệm nhiều người là liên tiếp hỏi thì sẽ giữ được hồn lại, nhưng mọi người không ai hỏi và cứ chờ em tôi tự kể nên hồn chỉ dừng lại vài phút rồi thăng.Theo lời em trai tôi thì cùng về với em trai tôi có rất nhiều đồng đội theo về. Có nghĩa là vẫn còn rất nhiều linh hồn hiện còn bơ vơ tại Hà Giang chưa có người thân đón về để hương khói. Khi chưa đón được về thì mọi sự cúng tế đều không hiệu quả...
Sau khi đem được linh hồn em trai tôi về, vợ tôi khỏi hoàn toàn bệnh tật và không còn mơ thấy gì nữa. Gia đình tôi từ khi rước được linh hồn em tôi về nghĩa trang huyện Tân Kỳ mọi việc riêng tư đều cảm thấy hanh thông, nhiều tai ương đều được hạn chế ở mức thấp nhất..
Tôi kể chuyện này hoàn toàn do chính tôi chứng kiến và xin coi là một nén tâm nhang nhân ngày 27/7: Ngày thương binh liệt sĩ giành cho em trai tôi và những linh hồn của biết bao người lính hiện còn bơ vơ chưa được người thân đưa về nơi bản quán để phụng thờ hương khói.
Những anh hùng liệt sĩ của đất nước này thể xác của họ có thể bị vùi lấp, trở về với cát bụi nhưng linh hồn của họ vẫn còn song hành với chúng ta; họ không bao giờ mất nên không một ai được phép quên họ...Ai cố tình quên họ chắc chắn khó tránh khỏi tai ương. Đó là điều mà tôi chiêm nghiệm qua chuyện gia đình tôi.
Kỳ sau tôi sẽ kể những chuyện tai ương mà tôi và vợ tôi đã tránh được một cách kỳ lạ hình như có ai đó đỡ đần phù trợ...
P.V.Đ
Một ít chuyện làm báo
Cập nhật: 10:07:00 10/5/2010
Cập nhật: 10:07:00 10/5/2010
Tôi ở 63 Lý Tự Trong tp Hồ Chí
Minh suốt thời kỳ cơ quan Đại diện như là tiền phương của báo Quân đội nhân dân trong
chiến tranh biên giới Tây Nam .
Giữa một Sài Gòn phồn hoa, bình yên và nhiều vui thú, nhóm phóng viên thường
trú ở cơ quan Đại diện ngày đêm sống với chiến tranh. Chúng tôi chia nhau đi
dọc biên giới lấy tài liệu nóng hàng ngày để đưa tin, viết bài. Thường là những
chuyến đi ngắn, vội vã, nay đi, mai về, lăn ra viết rồi sang văn phòng Đại diện
báo Lao động bên
kia vườn hoa, uống với nhau vài vại bia hơi, lại ra biên giới... Cơ quan
lúc nào cũng râm ran chuyện đánh giặc, ăn vội, đi vội. Lâu lâu để nuôi cái
không khí trận mạc, Tổng biên tập Trần Công Mân lại bay vào cầm quân đi một
chuyến thực tế để khích lệ sĩ khí các sĩ quan làm báo. Đó cũng là
thời gian anh Trưởng đại diên Vũ Linh nhập thế hơn để lo toan cho cánh phóng
viên ngày ở Sài Gòn, đêm trên biên giới. Con người vốn lịch lãm ưa bình luận
chính trị, xã hội, văn chương nay hăng hái đánh xe xuống quân khu, tỉnh đội xin
cả... củi đem về chuyển đổi mà giảm mức ăn bo bo, tăng cơm trăm phần trăm gạo
đỏ Đồng Tháp, giữ sức khỏe cho anh em ra trận.
Cuộc sống tốc độ làm chúng tôi máu mê những chiếc Honda. Loạt Honda đầu tiên
của cơ quan Đại diện là tốp Cao Tiến Lê, Trọng Lượng, Hoàng Như Thính, Tô
Phương, Thiều Quang Biên và Trần Đình Bá nhặt từ sân bay Tân Sơn Nhất về. Hầu
hết xe đã cũ nát, do người vội di tản bằng máy bay vứt lại. Chỉ có chiếc
Kavazaky 125 phân khối, anh Lê nhặt từ Nha cảnh sát đem về là mới. Chiếc
này cao lênh khênh, vốn của cảnh sát dùng cho việc truy đuổi, như ngựa bất
kham. Nhà văn Cao Tiến Lê được Trọng Lượng dạng hai chân theo tư thế xuống tấn
giữ đuôi, để anh leo lên xe vài lần, cũng chỉ đám đi vài vòng trong sân, rồi
đút gầm cầu thang.
Đến lượt Khắc Xuể, chiếc xe mới trở thành phương tiện có ích. Phóng viên ảnh
Khắc Xuể đẹp trai, cao lớn như cầu thủ bóng chuyền, ngồi trên chiếc Kavazaky
125 phân khối nhìn rất ăn ảnh. Xuể được anh em cổ súy đã dũng mãnh một mình một
ngựa phi thẳng một mạch từ Sài Gòn ra Nha Trang.
ở báo Quân đội trong chiến tranh phá hoại, từng có tổ phóng viên Trần
Thắng với xe đạp Vĩnh Cửu có đèn bão sơn đen treo tay lái, đi từ Hà Nội
vào Vĩnh Linh, ăn ngủ tại các trận địa dọc đường liền hai tháng để viết bài dọc
hành trình bom đạn. Còn đi một mạch gần năm trăm cây số bằng xe gắn máy để chụp
ảnh thì chỉ có Khắc Xuể nêu kỷ lục. Nhưng Xuể cũng chỉ cắn răng được lượt đi,
chụp được một ảnh trung cảnh in báo, bóc đi một lớp da tay vì cháy nắng, lượt
về đành phải đưa xe lên nóc xe đò. Cũng chỉ một lần ấy thôi, chiếc Kavazaky lại
ấn vào gầm cầu thang.
Rồi xe vào tay phóng viên ảnh Vũ Đạt. Đạt nhỏ con, người ngợm như cóc gặm,
nhưng lại là một tay chơi liều lĩnh, hợp với ngựa chứng. Đạt tự sang sửa chiếc
xe và thường chọn tôi ngồi sau ôm eo. Có mấy lý do vì sự chọn này. Một là, tôi
viết bài, Đạt chụp ảnh vừa một cặp lại khá ăn ý. Hai là, tôi là đứa dễ
sai, không phá quấy, Đạt ưa. Ba là, tôi với Đạt từng một chuyến chia ngọt xẻ
bùi đi dọc Trường Sơn vào mặt trận Đông Nam Bộ, ngay trước cuộc Tổng tiến công
Mùa xuân năm 1975. Chuyến ấy, xe vừa ra đầu ô thì có người mặc áo mưa đứng
chắn. Đạt nhảy xuống quát lác kẻ liều lĩnh dám bịt mặt chắn đường, bỗng ngớ ra
vì đó là một cô gái Hà Nội nhỏ nhẹ và xinh đẹp, Đạt từng quen trong một
lần đi làm báo. Tôi vội ghi được vài pô, sau đó ra giá với Đạt mỗi ảnh một
bao Tam Đảo. Sau tháng tư, bảy lăm, Đạt không chỉ tặng tác giả cả tút thuốc mà
còn kèm theo cả bánh cốm Hàng Than, chè móc câu Thái và hạt sen Đình Bảng, tất
cả đều thắt nơ đỏ. Cặp nhân vật trong ảnh nên vợ nên chồng...
Ngày đầu cuộc chiến đấu giải phóng Cănpuchia khỏi ách diệt chủng Pônpốt, cơ
quan Đại diện thường chỉ còn lác đác mấy anh chị giữ gôn ở nhà. Tất cả bám theo
đơn vị tỏa đi các hướng chiến trường. Phóng viên ảnh Bá Thước theo xe tăng. ở
bến sông Niết Lương tăng dồn ứ lại, Thước nhảy xuống xe vừa chụp ảnh, vừa hò
hét cứ như chỉ huy tiểu đoàn. Cho đến lúc cậu công vụ của đơn vị đến bên anh sĩ
quan chụp ảnh nhắc khéo rằng tiểu đoàn quyết định xe đi bến trên vì ở đó
ít bùn, chứ không qua đây, thì Bá Thước mới thôi hăng hái đốc chiến. Cũng nơi
bến sông Niết Lương này Tất Thắng, phóng viên trẻ, tài năng của báo Quân đội nhân dân đã ngã
xuống trong một đêm vượt sông... Thắng là sinh viên khoa báo chí về báo Quân
đội thực tập với tấm bằng mới tốt nghiệp và cuốn tiểu thuyết đầu tay Hoa tuy líp, Nhà xuất bản
Thanh niên in, vừa phát hành. Thắng xung phong đi thực tế mặt trận ngay
chuyến công tác đầu tiên cùng với phóng viên quân sự kỳ cựu Nguyễn Thắng. Họ
đến Niết Lương trong đêm, bị pháo địch bắn phủ đầu. Tất cả được lệnh nhảy xuống
xe, chạy đến khu ẩn nấp. Thắng cận nặng, đeo kính mười điốp, lúc nhảy xuống xe,
kính bị văng, không còn nhìn thấy gì. Trong lúc lầm mò tìm kính,Thắng bị đạn
pháo, ngã xuống, tay còn xoa trên mặt cỏ dò tìm... Từ lâu lắm tôi ao ước cơ
quan Đại diện nên có hình thức nào đó giữ lại những kỷ niệm một thời phóng viên
mặt trận đáng nghiêng mình như Tất Thắng, để đồng đội nhớ về nhau, nhưng ước
muốn vẫn còn xa lắc...
Bây giờ thì Vũ Đạt với hai máy Pratica Cộng hòa liên bang Đức khoác chéo người,
đèo tôi sau lưng, phóng Kavazaky như bay vượt qua biên giới vào vùng đất
Pơrâyveng chiến tranh vừa đi qua, khói súng còn khét lẹt và nhiều đám cháy cuốn
khói đen ngoài bờ sông. Rất nhiều phóng viên Quân đội đang cuốn theo cuộc thần
tốc vào Phnômpênh của Quân đoàn 4, trong đó có nhà thơ Anh Ngọc. Chiếc ô tô con
biển quân sự đi trước chúng tôi trên con đường vắng heo bỗng đường đột dừng lại
vì thấy chiếc Kavazaky bám sát phía sau. Nhận ra chúng tôi, chiếc xe ô tô
nhường đường cho mô tô phóng viên đi trước.
Càng vào vùng địch phản pháo, Đạt phóng xe càng hăng. Chiếc Kavazaky chồm chồm
nhảy qua các bờ ruộng giống như cát-ca-đơ trong phim hành động. Để giảm tốc độ,
tôi chỉ còn cách cấu thật mạnh vào hai bên eo lổn nhổn những xương của người
cầm lái. Như là không biết đau, Đạt lao xe qua một bờ cây rồi khựng lại.
Đó
là một trận địa pháo 122ly, lính ta mới thu được của địch, đang quay nòng về
hướng truy kích, bắn chặn đầu. Đạt tác nghiệp nhanh như máy. Chốc lát, tôi đang
hỏi chuyện mấy cậu lính, Đạt đã nhảy lên xe, giục đi.
Tôi hỏi: Đi đâu?
Hắn không giải thích, giục: nhanh lên, kẻo nguội mất mẹ nó bây giờ.
Cái gì nguội? - Tôi hỏi.
Hắn gắt: Mặt người nó nguội chứ còn cái gì. Im tiếng súng tí nữa, mọi việc yên
ổn, cảnh nhạt hoét...
Chúng tôi no nê một ngày làm báo, trở lại Sài Gòn vào tầm nửa đêm, thức đến
sáng để làm ảnh, viết bài. Viết xong, những tưởng chỉ mình nhanh chân, có tư
liệu độc nào ngờ ra khỏi cửa mới biết Anh Ngọc, Nguyễn Thắng, Thiều Quang Biên
còn nhanh hơn cả Kavazaky. Các hắn đã làm xong mọi việc và rủ khao nhau hủ
tiếu.
Cơ quan Đại diện cũng có thể xem là một trạm khách cho phóng viên vào nam tạm
trú. Nhiệm vụ các chuyến đi công tác của phóng viên thường nhận từ Tòa soạn.
Thế nhưng việc tổ chức cho các nhà báo làm tốt được công việc thì cơ quan Đại
diện lấy đó là trách nhiệm, là niềm vui, là thành tích công tác và cũng vì tình
bè bạn. Vì thế anh Linh, sau này là anh Trọng, anh Tuyển thường liên hệ
với các đơn vị mở đường cho các chuyến đi thuận lợi.
Tôi và nhà thơ Anh Ngọc được anh Vũ Linh có lời trước với Tiền phương của Tổng
Cục Chinh trị và Quân đoàn 4 để vào Phnômpênh được chu đáo. Vừa đến Phnômpênh
buổi trưa, được nhà mỹ học Sơn Nam ,
cán bộ tuyên huấn của Quân đoàn 4 đãi một bữa nước thốt nốt thay bia ngon
tuyệt, tối Anh Ngọc rủ tôi đến thăm anh Vũ Cao, Tham mưu trưởng quân đoàn. Anh
Vũ Cao là nhà quân sự, nhưng yêu văn học, từng viết tập ký khá hay Bảy ngày đến Phnômpênh.
Anh nói về chiến tranh cứ như tập trận và khơi gợi nhiều mới lạ về Cămpuchia cổ
kính và trần trụi ở phía trước, làm hai chúng tôi hào hứng xin được theo HU1A
lên vùng núi Cácđamôn, nơi ta và địch còn đang tranh chấp.
Bay chừng nửa giờ, dưới cánh bay chỉ núi là núi. Nửa giờ nữa máy bay nâng độ
cao để giữ an toàn. Nửa giờ nữa, tổ lái báo phía dưới có hỏa lực của tàn quân
Pônpốt bắn lên. Thay vì lên cao, máy bay đường đột lao xuống thấp, bay
ngoằn ngoèo theo thung núi, rồi vội đáp xuống vạt đất yên ngựa có đám khói do
lính ta đốt chỉ điểm hạ cánh. Chúng tôi đeo balô vừa nhảy xuống đất, chưa kịp
chào nhau, chiếc HU1A đã vội bốc lên. Lính ta khoái máy bay đã bỏ lại hai chàng
tòng teng máy ảnh, chĩa súng lên trời bắn chào mấy
loạt...
Tôi và Anh Ngọc được dẫn đến sở chỉ huy của tiểu đoàn 4 đóng quân trong khu Ba
Nhà. Sau này, về Sài Gòn đọc thêm tài liệu mượn được của anh Nguyễn Minh
Phương, một nhà sưu khảo khá nổi tiếng công tác ở báo Đại đoàn kết, tôi mới biết
thêm khu Ba Nhà là vùng nghiêng của Các-đa-môn, có khí hậu nghiệt ngã nhất Đông
Dương, hang ổ của sốt rét ác tính. Ba nhà đơn độc vùng này vốn là trạm hậu cần
của lính Pônpốt. Lính ta tiếp quản nhưng không ở được trong nhà vì hôi hám bốc
ra từ rất nhiều đống da trâu, da bò lẫn lộn với xương cốt... Ngay cả ở các đơn
vị của Quân khu 6 ở lọt trong vùng Cực nam Trung bộ, bốn phía địch bao vây tôi
từng gắn bó trong chiến tranh cũng không đến nỗi kham khổ như lính tình nguyện
ở khu Ba Nhà. Ngày ba bữa cơm muối trắng. Đêm lính lục tục di chuyển chỗ ngủ
một vài lần đề phòng địch tập kích. Những lính trẻ da dẻ bủng beo, chân tay
lòng thòng vì không còn cơ bắp suốt ngày lùng lũ giặc đã hóa phỉ ẩn
nấp trong rừng. Sáng nào tôi cũng bắt gặp cảnh lính ta lặng lẽ khiêng cáng
đồng đội trên con đường mòn ngang qua khu Ba Nhà. Những cái chết bị vấp mìn, bị
bắn tỉa, bị sốt rét ác tính và vì muôn vàn thứ do rừng hoang, thiếu thốn và ác
liệt gây ra...
Chúng tôi ở khu Ba Nhà chừng mươi ngày thì được trinh sát dẫn đường ra Lếch,
thị trấn nhỏ ven rừng, vốn là đại bản doanh của Tà Mốc,Tham mưu trưởng tàn ác
khét tiếng của quân Pônpốt. Vừa bước vào thị trấn, Anh Ngọc bỗng lặng người
nhìn hút hồn đoàn rước dâu ngang qua. Sau này đọc trường ca Mê công bốn mặt của Ngọc,
tôi mới tạm hiểu cái giây phút lặng người của nhà thơ ở Lếch; giây phút bất ngờ
lóe sáng, run rẩy vì chợt đến của những câu thơ của thiên trường ca tài hoa về
sự hi sinh, tự do và những nụ cười Baion huyền bí...
Chúng tôi rời Lếch một cách may mắn, vì chỉ vài
giờ sau đó đã rơi vào đơn vị hậu cần làm công việc đánh cá Biển Hồ. Chủ nhà là một
sĩ quan quê Thanh Hóa đã hào phóng khao chúng tôi một bữa toàn cá rô nướng lại
còn biếu một con nặng 16 cân, tôi và Ngọc phải khiêng như khiêng quả đạn cối
120ly. Có Quả đạn cối
trên vai chúng tôi cứ lủng lẳng khiêng mà bước qua mọi trạm gác nghiêm
ngặt, vào thẳng chỉ huy sở Quân đoàn 4. Cả sở chỉ huy tiền phương bấy giờ có
chừng hai chục người. Con cá thì những 16 cân, nào nướng, nào canh chua, nào
rán cũng chỉ hết non nửa, nửa kia phải gọi đơn vị đến giúp....
Tại tiền phương của Quân đoàn 4, chúng tôi nhận được tin nhắn từ cơ quan Đại
diện rằng đi Bai-lin, vùng mỏ kim cương, hậu cứ của Pônpốt, dự lễ mừng công của
Quân đoàn. Vùng mỏ kim cương không giống như tôi hình dung; không có vẻ gì giàu
có mà xơ xác, bụi đất màu cám rang mù mịt trong nắng gíó hầm hập. Cảnh lễ
mừng công của Quân đoàn cũng không giống như tôi tưởng, không phải đơn sơ chiến
trường mà như một ngày hội lớn, có đội kèn đồng với quân phục đại lễ trắng nõn,
đeo ngù vàng, đứng dưới mái hội trường dựng tạm, lợp lá, tấu vang lừng bản Tiến bước dưới quân kỳ như
cho cả đội hùng binh diễu qua quảng trường... Tôi có gặp một tổ phóng viên của
một số tờ báo từ thành phố Hồ Chí Minh bay chuyến Sài Gòn-Xiêm Riệp rồi đáp ô
tô đã kịp đến Bailin đúng lúc kèn đồng vừa ngạo nghễ cất lên. Họ đến nhanh và
cũng đem nhanh tiếng kèn đồng thắng trận về thành phố báo tin cho độc giả. Tin thắng
trận không có cảnh những người lính sốt rét ở khu Ba Nhà. Cuộc chiến được nhìn
từ tấm áo choàng lộng lẫy trên người các anh lính tình nguyện đã che khuất hàng
vạn chiến sĩ đã lặng lẽ ngã xuống trên những cánh rừng, đồng ruộng, con đường
của đất nước gần gũi mà xa xôi này...
Sau chuyến đi nhiều kỷ niệm với
nhà thơ Anh Ngọc, tôi trở lại Cămpuchia một lần nữa, băng qua những cánh rừng
khộp cuối mùa khô, đến thành phố có biểu tượng mặt trăng xanh trôi trên
những lá thốt nốt- thành phố Stungcheng. Chẳng có thành phố nào trên bán đảo
Đông Dương tôi đã qua lại lạ lẫm như Stungcheng này. Phố chỉ mấy dãy nhà, ban
ngày người ngơ ngơ ngác ngác như buồn ngủ, nhưng đêm đến thì không chỉ người mà
ngọn cỏ, lá cây cũng như bừng tỉnh, rung rinh trong háo hức mời gọi của tiếng
trống tạ pôn.
Tôi lọt vào vòng vâycủa một đám trai gái múa không biết mệt. Vài giờ lúc chập
tối chỉ là múa xã giao. Khách khứa đến chung vui được phụ nữ cung kính cúi
người mời rựợu rồi mời múa vài vòng. Trẻ con và người cao tuổi cũng vào vòng
múa trong giờ trước khi đi ngủ. Màn xã giao và vui múa cộng đồng kết thúc một
cách tự giác khi một chàng trai vạm vỡ bước ra, nhận chiếc trống từ tay một ông
già. Chàng trai tung trống lên như trò xiếc tung hứng, rồi chộp lấy, kẹp đuôi trống
vào hai bắp vế, hai bàn tay vỗ lên mặt trống bọc da trâu nhanh như tan biến...
Nhịp trống dồn dập vang lên. Vòng múa chỉ còn lại nam thanh nữ tú. Các cô gái
của thành phố miền sơn cước với bộ ngực vĩ đại, cặp mông quen lội rừng, trèo
núi rắn chắc và đồ sộ bước ra. Họ càng múa, khối cơ thể tưởng như nặng nề kia
chuyển động mềm mại như mèo cái động tình và quyến rũ một cách kỳ lạ.
Những đôi mắt to, rất nét. Những cặp môi dày nóng bỏng. Những khuôn cằm đầy
đặn... tất cả như rực lên ngọn lửa tình. Các chàng trai bước vào. Họ múa, không
chạm tay vào nhau, nhưng vẫn cuốn vào nhau như có sợi dây vô hình ràng buộc.
Càng múa, đất dưới chân họ như bỏng lên. Các cô gái xoay người, xoay nguời lắc
mông, lắc ngực. Họ lắc cho cơ thể thả lỏng dần, hai bầu vú căng cứng đột nhiên
chuyển động mềm mại, đập vào nhau thành tiếng bì bạch như tiếng bàn tay trẻ con
vỗ êm ái trong lồng ngực...
Tôi trắng đêm Stungcheng múa. Thiên nhiên báo chuyển mùa bằng tiếng sinh sôi
của rừng. Rì rào như một cơn mưa nhẹ, nhưng không phải mưa, mà là hơi ẩm tràn
về làm cho lớp vỏ khộp cong vênh vì khô nắng suốt sáu tháng, nay đột
ngột gặp hơi ẩm vội tách nứt, để lộ những mầm non ngơ ngác trong đó. Tôi
được sống trong đêm cuối cùng của mùa khô phương bắc nước bạn.
ở báo Quân đội có một người giàu chữ Hán, hết sức tài hoa và uyên bác, cũng hay
vào Sài Gòn ăn cơn thường trú là anh Phú Bằng. Nhiều năm anh là thủ trưởng trực
tiếp của tôi. Và vì thế tôi có nhiều năm để hiểu chút ít về con trai cụ Phạm
Phú Tiết, Thượng thư triều đình cuối cùng của nhà Nguyễn. Hồ sơ trích
ngang của ông Phú Bằng đại loại, chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là phóng viên
làm báo tại mặt trận. Bài tuỳ bút Đêm
nay bác không ngủ in trên Báo Quân đội phát hành tại mặt trận ra
đời trước khi bài thơ nổi tiếng, cùng tên của nhà thơ Minh Huệ được lính truyền
tay đọc trên chiến hào. Mậu Thân 68, nhà báo Phú Bằng bị thương, gục xuống góc
chiến hào. May mà trước khi rút anh em kiểm tra lại trận địa lần cuối đã phát
hiện ra nhà báo, khiêng vác đúng một ngày, một đêm về căn cứ, cứu sống. Ông đi
nhiều, sống nhiều, học nhiều nên không viết thì thôi, chứ đã viết thì từ một
mẩu bằng bàn tay, đến vài chục kỳ ký đều giàu có về tài liệu, văn hóa và chữ...
Nhưng cụ đồ Bằng xem ra cũng không ham văn chương. Ông chỉ ham việc người, việc
đời trong cõi nhân sinh. Một sáng mùa đông gió rét, thấy kẻ hành khất qua nhà
ông vội ôm chăn chiếu đem cho để tối thiếu chăn, bị vợ rầy la. Một lần ra ga
mua cám lợn về chăn nuôi, gặp một tốp thương binh lếch thếch hỏi đường ra bến
xe, ông quên việc nhà chở 6 chuyến thương binh về bến Nứa. Quay lại ga thì
không mua được cám nữa, lại bị vợ sửa gáy. Có đến cả chục năm nay, tháng một
lần, ông một mình lầm lũi lên vùng dân tộc thiểu số còn khó khăn để khi thì
giúp nhà này một con lợn giống, khi thì đem cho trẻ em mớ quần áo cũ cùng sách
vở... Tôi mới gặp ông đi Cao Bằng đem theo mấy chiếc áo dài cho các cô giáo ở
một trường trên lưng núi. Rồi một hôm khác, gặp ông đi như hành khất trên phố
cổ, tôi hỏi thăm ông đi đâu và tròn mắt nghe ông bảo, ông đi dạy múa và
dạy phép tắc ngoại giao cho các cô lễ tân làm việc trong khách sạn Mêtrôphôn
sang trọng bậc nhất của Hà Nội để chuẩn bị tiếp nguyên thủ của Hội nghị Apec
sắp tới...
Tôi nói thêm vài chuyện nữa về ông Phú Bằng để chuyển sang chuyện khác,
kẻo bỏ qua thì không có dịp nhắc lại. Với lại tôi quý những người làm báo như
anh Phú Bằng, chỉ viết khi tự trải qua, tự mình kiểm nghiệm, tự mình tìm
thấycâu chuyện và nhân vật cho mình từ trong ngổn ngang đời sống. Kiểu nhà báo
này khổ ải, nhếch nhác không sạch sẽ, thơm tho, sang trọng như nhà báo làm việc
ở văn phòng, chỉ cần chút ít ngoại ngữ là viết bằng thông tin của người khác,
bình luận bằng cách nghĩ của người khác, chữ nghĩa cũng vay mượn của người khác
nốt...
Cái lần vào Sài Gòn thường trú, do máu me xê dịch tôi tếch đi Cămpuchia,
rồi từ Stungcheng phóng liều sang Nam Lào để được mục sở thị Thác Khôn vì bao
nhiêu năm cứ bị câu thơ của Nguyên Hồng ám ảnh: Lững thững voi đi, Thác Khôn cười trắng xóa...
Nhập cảnh vào Lào chỉ với tấm thẻ nhà báo, tôi đắm chìm vào một quang cảnh
thiên nhiên kỳ vĩ. Thác Khôn đó, sông Mê Công cường tráng và phóng túng chảy
chừng năm ngàn kilômét từ vùng núi băng tuyết Tây Tạng Trung Quốc tới đây thì
bị dẫy núi đá chắn ngang chặn khựng lại. Để tiếp tục cuộc hành trình uyên
nguyên của mình mà ra biển, dòng sông phải tự dâng nước lên, tự hóa mình thành
biển lớn trước núi chắn, người Lào gọi là biển Xỉ-phăn-đon, nghĩa là bốn ngàn
đảo. Biển nước Xỉ-phăn-đon dâng cao, dâng cao, trườn qua đỉnh núi đá, đổ ụp
xuống con sông dưới chân núi thuộc Cămpuchia. Chín nơi nước tràn qua núi là
chín miệng Thác Khôn. Từ độ cao từ vài chục đến ngót trăm mét dội nước xuống,
các ngọn thác đều là dòng chảy đầy uy lực, gầm thét, tung lên một vùng mưa bụi
cho nắng vẽ những cầu vồng ngũ sắc, vừa hư ảo, vừa mãnh liệt.Thác Khôn đẹp quá,
tôi nhớ đến nhiếp ảnh Vũ Đạt...
Đi qua Thác Khôn, đi qua Xỉ-phăn-đon,
quê hương của Chủ tịch Khăm Tày, tôi bám được một đơn vị vận tải, lọt vào vùng
Tam giác phỉ, nơi giáp gianh của ba nước Lào-Cămpuchia-Thái Lan.
Loanh quanh một lúc tôi gặp mấy người cởi trần, cơ thể vạm vỡ lấm lem đất cát,
tự giới thiệu là bộ đội Việt Nam
tình nguyện. Hỏi gì các anh cũng chỉ cười. Bỗng ló ra một ông cao lớn. Anh em
giới thiệu là chỉ huy, cũng không nói rõ là chỉ huy cấp nào... Nghe tôi tự giới
thiệu xong ,ông hỏi: Thế thì anh phải biết ông Chu Lai. Tôi nhận là có biết,
nhà từng ở cạnh nhau, khu tập thể số 8 Lý Nam Đế. Từ đó chuyện mới đỡ nhạt.
Thì ra đây là đơn vị đặc công, tiểu đoàn 45 nổi tiếng. Các anh ăn bờ ngủ bụi ở
đây, nhưng hoạt động những đâu, những đâu thì khó mà kể ra được. Chỉ biết cái
thành phố rừng Stungcheng đêm đêm tưng bừng tiếng trống tạ pôn, vùng Thác Khôn
và biển đảo Xỉ-phăn-đon miệng thác, Bắc- sế cùng con đường chiến lược13,
và xa hơn là vùng bắc Tây Nguyên có yên ả hay không là do một phần công sức của
những người lính tình nguyện trát đất lên da thịt thức ngủ nơi Tam giác
phỉ này...
Nghề báo có niềm vui là không ít lần dọc đường lại gặp lại nhân vật của mình,
kể cả các nhân vật thoắt ẩn, thoắt hiện như lính đặc công. Tôi gặp lại họ lần
thứ hai ở một nơi không ngờ tới, gặp ở mặt trận Cao Bằng năm 79. Họ đến mặt
trận này từ bao giờ, tôi không biết. Một chiều nhóm làm báo chiến trường Hà
Đình Cẩn,Tô Phương, Tất Đạt đang leo đèo thì gặp ông Phú Bằng đi từ núi xuống.
Ông bảo, các cậu đến đơn vị nào hỏi chuyện cũng được, chớ đến thằng đặc công
45, chán lắm. Các hắn bảo chả có chuyện gì mà kể cho các nhà báo đâu. Lính cả
đơn vị đều chọn kỹ, hành quân không có chuyện mang vác giúp nhau. Học kỹ chiến
thuật cũng không có chuyện người giỏi giúp người còn yếu kém. Đi làm nhiệm vụ
thường mỗi người một hướng, gặp địch là đánh tới chứ không có chuyện phải họp
bàn rồi xác định quyết tâm dài dòng. Chúng tôi giống nhau, nên bảo nêu một
gương điển hình thì khó lắm...
Sau này ông Phú Bằng có viết về cái tiểu đoàn thú vị này. Ông không viết chiến
công của họ, mà kể câu chuyện các cô đội cấp cứu hỏa tuyến bắt gặp dọc đường
vào tuyến trong gặp một thương binh, nhưng không tổ cáng nào chịu khiêng mà cứ
đùn đẩy cho tổ đi sau... Đến lúc nhà báo Phú Bằng gặp mới vỡ nhẽ rằng anh
thương binh to lớn quá, đến hơn 80 cân, khiêng hai không được, khiêng tư thì
đường hẹp khó đi, nên... Anh thương binh tám mươi cân này chính là tiểu
đoàn trưởng tiểu đoàn đặc công. Biết chuyện anh cười, bảo: Tôi đã nói mà, lính
đơn vị tôi nếu bị thương cũng phải tự bò về, chứ không nên làm phiền người
khác...
Giá không có cơ
quan Đại diện cuả báo làm tiền phương thì tôi khó có thể đi lại nhiều lần vùng
đồng bằng châu thổ sông Cửu Long và vùng biển đảo phía Nam ... Thực
tình, cho đến tận bây giờ, tóc đã như mây, tôi vẫn cứ ham những chuyến lội sình
lầy Đồng Tháp, những cuộc nhậu rượu đế với xoài xanh chấm mắm ruốc vui nổ trời,
những đêm trên xuồng nghe đâu đó tiếng đàn phím lõm của tài tử cải lương thả
vào mênh mang sông nước khúc Dạ
cổ hoài lang bất hủ của cụ Lầu...
Lần ấy tôi gặp may, theo phóng viên phòng kinh tế, xuống Quân khu 9 tìm hiểu bộ
đội đi khai hoang, mở nông trường đã lần đến Cần Thảo, gặp được ông trung đoàn
trưởng điển hình của người lính ngụ nông một thời. Ông là trung tá Quang, quê
Bắc, nhưng đánh giặc trong Nam
từ thời trai trẻ, trên người mang 17 vết thương. Vết thứ 18, anh bảo, bị con vợ
nó cắn trong cái đêm sau hơn mười năm gặp lại...
Trung đoàn của anh dựng lều giữa đồng, đốt cỏ, vỡ hoang, đào kênh thau phèn,
rồi làm đất... liền trong bốn tháng liền trong sáu tháng mùa hanh khô. Cái
chiều gieo sạ xong, bước lên bờ, lính đại đội này nhìn lính đại đội khác nghe
tên thì quen chứ ngó mặt thì lạ hoắc. Sáu tháng đằm trong đất, trong
phèn, trong nắng gió... anh nào anh nấy mặt mũi vêu vao như đẽo vạc, chỉ còn
cái cười giữa đồng là phóng khoáng. Mồ hôi lính đổ xuống 1000 ha của nông
trường quả là nước sông công lính, không biết bao nhiêu mà kể.
Đất không phụ người, cả ngàn ha lúa đẹp như mơ. Lúa đang thì con gái thì lũ về.
Cây lúa cứ theo nước mà ngoi lên. Nhìn cả cánh đồng ngọn loi thoi trong nước,
ông trung đoàn trưởng Quang bảo anh em đóng cho ông một chiếc bè. Vẫn biết
thương lúa thì cũng chỉ còn biết nhìn trời, nhưng cả ngàn ha đang ngập, bỏ đi
thì không đành, ông ăn ngủ trên bè, bám đồng ruộng như lính bám trận địa
ngày nào. Mùa mưa kham khổ, lại ngày đêm phơi mình giữa mắng gió, những vết
thương cũ tái phát đã quật ngã ông ngay trên chiếc bè trôi nổi cùng ngọn lúa.
Người mất, đau đớn thì cũng phải đành, thương là thương người sống. Bà vợ ông
Quang sấp ngửa từ Bắc vào, thấy cái vết răng cắn mười năm gặp lại trên cánh tay
chồng còn đó, mà người thì đã xa lìa...
Mùa nước nổi, rồi nước rút. Ngàn ha lúa giập nát như bừa hồi sinh trổ bông.
Những người lính làm nghề nông đang thấp thỏm chờ thêm một vài ngày nữa cho lúa
chín đều để xuống đồng thu hoạch thì họa lại giáng xuống. Ngang trời bỗng vần
vũ những đám mây. Những đám mây lao vun vút, tỏa rộng ra. Trời đất, không phải
mây mà là chim lá vàng từ phía tây bay về. Đồng bằng vẫn có những năm đại hạn,
chim lá vàng từ đâu đó kéo về phá lúa. Hàng triệu, hàng triệu con kết thành
những đám mây, bay rất cao, gặp đồng lúa sà xuống như những chiếc lá vàng rơi.
Chúng sà xuống đâu thì lúa xơ xác đến đó. Cả mấy trăm anh lính vội vớ nồi niêu
xoong ,chảo, gậy gộc, cuốc xẻng vùa gào thét, vừa khua vang đuổi chim. Đồng thì
rộng, chim lại nhiều, đuổi chỗ này, chim sà đến chỗ khác. Phía sau cánh bay của
đàn chim là những bãi lúa chỉ còn trơ lại cọng rơm. Suốt mấy ngày đêm, lính hò
hét khản hơi đàn chim ăn no rồi thì tự đi để lại cánh đồng hoang phế...
Sau mùa lúa thất thu những người lính của nông trường để lại ruộng đồng phía
sau. Họ lại được lệnh lên biên giới...Chao ôi, chiều ấy những người linh
lam lũ ruộng đồng nhưng thất bát, bỏ lại mùa vụ dở dang lầm lì vác súng
lên biên giới phía tây nam,nơi chênh chếch chân trời ráng đỏ rực như
lửa biết bao bà con Châu Đốc như dự cảm thấy một điều gì gợi về máu và
nước mắt đã không cầm được nước mắt
Tôi và Châu, cả Đạt và Thiều Quang Biên nữa thì phải đi nông trường Cần
Thảo, rồi không thể đừng nếu không đi tiếp về Bảy Núi, thắp hương bái viếng cụ
Thoại Ngọc Hầu, một ông quan triều Nguyễn, đời Minh Mạng là Tổng công trình sư
thiết kế và tổ chức năm vạn lực điền đào con kênh Vĩnh Tế đổ nước ra biển phía
để thau chua, rửa mặn mà có đồng ruộng miền Tây phì nhiêu hôm nay...
Tôi yêu người cày ruộng đồng bằng Cửu Long hiền hậu, chân thật như ngô khoai và
vô cùng hứng thú những chuyến đi thuyền trên kênh rạch, nên lâu lâu lại kiếm cớ
đi thực tế đồng bằng. Ngày ấy, hình như là tôi có bán chiếc đồng hồ Sencô5 với giá
30 ngàn cho ông Thanh Dục từ Hà Nội vào làm công tác hành chính khi cơ quan Đại
diện tạm di chuyển từ 36 Lý Tự Trong sang ở dãy nhà ngang của dinh Gia Long, kế
bên để đủ tiền đi đồng bằng một chuyến cho thật hoành tráng. Có 30 ngàn, tôi
lên tàu hải quân ra thẳng Phú Quốc, rong ruổi phỉ chí tang bồng ngoài đó rồi
mới lại vẫy máy bay trực thăng của bộ đội về sân bay Trà Nóc. Vừa xuống máy bay
tôi gặp được một anh lính Quân khu 9 tốt bụng kéo thẳng vào nhà ăn sân bay ăn
suất của phi công rồi giới thiệu cho một nhân vật đến tiểu thuyết trinh
thám cũng khó có được.
Người đó là trung đoàn trưởng,
anh hùng Bông Văn Dĩa.
Ông Dĩa là chiến sĩ từ thời Nam
kỳ khởi nghĩa, từng tham gia kéo cờ đỏ búa liềm lên ngọn cây cao ở chợ Gạo,
Kiên Giang rồi làm giao liên cho Xứ ủy Nam kỳ. Vừa che mắt địch, cũng vừa kiếm
sống chút đỉnh, vợ chồng ông lên thuyền làm nghề bán tạp hóa rong trên kênh
rạch. Đồng chí Lê Duẩn là khách thường xuyên trên thuyền của vợ chồng ông đi
qua các chặng rào ngăn của địch. Ngày đồng chí Lê Duẩn bị giặc bắt, buổi sáng
bước lên Cầu Tàu Côn Đảo, ngoảnh lại, ông nhận ra anh giao liên Bông Văn Dĩa
cũng cùng một chuyến đi đày.
Ra tù do thắng lợi của cách mạng
và phong trào dân chủ của Mặt trận bình dân Pháp đòi chính quyền thuộc địa trả
tự do cho tù chính trị, đồng chí Lê Duẩn và Bông Văn Dĩa lại tiếp tục hoạt
động. Ông Dĩa lại xuống thuyền ngược dòng Mê Công, tìm đến đông bắc Thái Lan
xây dựng tiểu đoàn hải ngoại, nhờ bà con Việt kiều mua sắm vũ khí rồi kéo
quân về Đồng Tháp đánh giăc. Sau đó ông lại một mình một thuyền quay trở lại
Thái Lan để chở về chiếc máy in bạc đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trong kháng
chiến.
Suốt một đời ông Dĩa lênh đênh
trên thuyền. Ông sinh mấy đứa con, cũng đều sinh trên thuyền cả. Năm 59, con
người của thuyền chài này được đồng chí Mười Kỷ, Bí thư tỉnh ủy Cà Mau trực
tiếp trao cho chiếc thuyền gỗ trọng tải 9 tấn mở con đường biển từ Mũi đất ra
miền Bắc xin vũ khí, chuẩn bị cho cuộc Đồng khởi.
Ông Dĩa nói với tôi, đến lúc một
mình, một thuyền nhỏ ra tít mù xa để tránh kiểm soát của địch, giữa không
bờ, không bến, chỉ có sao trời và nước mênh mông ông mới giật mình là không
biết cách tính hướng đi qua sao. Nhưng, ông bảo, ông có trực giác, nhìn sóng,
nhìn gió, nhìn mặt trời lúc mọc, lúc lặn là biết hướng đi tới. Đúng là vậy,
lênh đênh ngoài biển quốc tế bảy ngày, ông quyết định lao vào bờ, hú vía, đó đã
là Quảng Bình.
Ba tháng ra bắc, sau khi chuyển
được lời nhắn gửi của các má Cà Mau đến bác Hồ: Mũi Cà Mau có thể mòn, nhưng
lòng người Cà Mau theo Đảng theo Bác Hồ không bao giờ mòn... Ông Dĩa ra đảo
Quảng Ninh ở ẩn, chỉ để học thuộc lòng một bản quy ước mật mã. Ba tháng đánh
vật với mấy trang giấy với những chữ số rời rạc, không có thứ tự nào, ông Dĩa
lại xuống chiếc thuyền gỗ của mình, mặc lại bộ quần áo cũ, không xin được khẩu
súng, viên đạn nào, quay trở lại Cà Mau.
Ông trở lại Đất Mũi. Con đường
biển ông vừa đi cùng với những con số mật mã nhớ trong đầu là những điều kiện
đầu tiên để con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển ra đời với những con
tàu không số chở vũ khí tiếp sức cho miền Nam chiến đấu...
Tôi làm việc với ông Dĩa cả tuần
theo cái lối làm việc của dân thuyền chài, ấy là lên thuyền rong rẻo và nói
chuyện. Đến một hôm rủ tôi đi Đất Mũi với lý do, ông mới xin được mấy chục tấm
tôn cũ dỡ từ khu gia binh ngụy bỏ hoang, tiện có ghe, ông chở về quê để dựng
tạm cho bả và các cháu túp nhà. Tiếc quá, tôi không về quê cùng ông được. Đến
khi tôi có dịp sắm sanh để về thăm người mở đường Hồ Chí Minh trên biển thì
biết tin ông đã đi xa... Bạn tôi, nhà quay phim quân đội Nguyễn Thành Thái đã
quay phim ông tại nhà riêng, kể rằng, ông đã dựng nhà mới, tường xây, sân gạch
khá khang trang, nhưng mái lợp bằng những tấm tôn cũ, nhiều lỗ đinh, nên đêm
đêm nhìn lên có thể thấy sao trời...
Tôi để ý thấy người ít vào quấy
rầy ban Đại diện 63 Lý Tự trọng là phóng viên nhiếp ảnh Hải Nam . Thật phí của, giá Nam vào nhiều
hơn thì khối người được nhờ. Nghề nghiệp, khỏi bàn, Nam còn có biệt tài sửa xe Honđa.
Tôi khâm phục ông nhiếp ảnh này, dám tháo rời chiếc Honđa 79 ra từng bộ phận,
những lò xo, đinh ốc lẫn lộn xếp đầy cả hai chiếc chậu nhôm vậy mà khi lắp vào
không thừa chi tiết nhỏ, đạp thử một cái, máy nổ luôn. Xong! Do thạo nghề, Nan
tỉ mẩn sàng sê đống xe Honđa cũ nát bỏ xó đã lâu ngày dồn vào được một chiếc 87
hết ý. Có xe, Nam
kêu tôi đèo đi công tác Bến Tre.
Từ Sài Gòn, tôi đèo Nam một buổi
sáng thì đến tỉnh lị. Bỏ xe lại phố, chúng tôi lên thuyền về một xã trên bãi
nổi sông Hàm Luông, cuộc sống phẳng lặng với những khu vườn cây trái trĩu quả.
Trong nhà ủy ban xã chỉ có một cô thợ may gương mặt, dáng vóc nhẹ nhõm như một
nữ sinh. Chúng tôi hỏi gặp ông chủ tịch, cô chỉ cười, bảo mấy anh chờ chút
đỉnh. Cô bưng nước ra mời khách, rồi mời các anh làm việc. Bấy giờ tôi mới vỡ
lẽ, chúng tôi đang ngồi với ai... Câu chuyện thật khó khăn, bên hỏi thì dài
dòng, còn bên trả lời thì nhát gừng. Cho đến lúc Nam loay hoay chụp ảnh, chân
đá vào chiếc Honđa dựng sát tường, cô chủ tịch vội thanh minh rằng vô ý quá,
không cất chiếc xe bị hỏng làm vướng khách... câu chuyện giữa chủ và khách hào
hứng hẳn lên. Mươi phút sau phóng viên Hải Nam bê xe ra hiên nhà và bắt đầu
tháo rời từng bộ phận xếp ra cái chậu. Nam hí hoáy cho đến giờ cô chủ tịch
bưng mâm cơm rượu lên đãi khách thì chiếc xe đã chữa xong, gảy nhẹ đã nổ máy.
Sáng sau, cô chủ tịch trẻ lại dậy sớm thổi cơm gà gói cho khách văn lên đường.
Cô tự lái xuồng máy đưa hai đứa chúng tôi lên thị xã. Con sông đẹp quá, nước
phù sa ngậy như mỡ. Tôi nghe phóng viên ảnh Hải Nam thỉnh thoảng lại xuýt xoa khen
thiên nhiên đẹp, nhưng khi mở máy chụp tôi chỉ thấy nghệ sĩ hướng ống kính về
cô chủ tịch chứ chả thấy chụp sông một kiểu nào. Về đến cơ quan Đại diện mấy
ngày sau tôi đã lại thấy ảnh Hải Nam chụp cô chủ tịch lái xuồng cười
rất tươi với lời chú thích Nữ
dân quân Hàm Luông... Nữ dân quân Hàm Luông có lần lên Sài Gòn tặng
cho tác giả ảnh cả một sọt chôm chôm. Hải Nam chỉ cho tôi ăn chôm chôm, chứ
không cho gặp người...
Tôi đã tự nghiệm chuyến đi nào mà
nhàn nhã làm việc với gái đẹp thì y như rằng thất bại, hồn vía lên mây, không
viết nổi một bài. Vì thế tôi rắp tâm trở lại Bến Tre một lần nữa, chỉ đi một
mình lang bang nay đây mai đó may ra gặp được quý nhân...
Mờ sáng hôm ấy, Sĩ Bình đang loay
hoay việc gì đó ở cửa ra vào. Tôi bụng bảo dạ, tay này hào hoa, mặt mày sáng
láng, gặp hắn đón cửa có lẽ hên. Hên thật, chưa đến Bến Tre đã hên. ấy là đến
Mỹ Tho tôi bỗng dưng đổi hướng rẽ vào trại nuôi rắn của Quân khu 9. Bước vào
nhà khách trại rắn, tôi bắt gặp ngay cảnh giữa mấy cha đang nhậu tới số có
một ông mặt mũi tưng bừng, cuốn quanh cổ con rắn hổ bằng cán cuốc, tay cầm cổ
rắn hướng lên miệng giả làm cái micrô để hát Tiếng
chày trên sóc Bom bo. Tôi nghĩ lại một chuyến đi thú vị rồi.
Chưa cần phải giới thiệu, ông
cuốn rắn quanh cổ như cuốn khăn đã hỏi tôi: Chú thứ mấy?
Tôi bảo út.
Ông nói, chú kêu tôi là Tư, Tư
Dược. Vậy thôi, chú út ngồi xuống nhậu chơi. Tới số đi.
Tôi sống những ngày thật vui và
luôn luôn ngạc nhiên về những việc làm của người nuôi rắn độc lấy nọc. Nhiều
việc ngoài sức tưởng tượng của tôi. Chẳng hạn để quen hơi với rắn hổ, ông
Tư ăn ngủ sát gian nuôi rắn, lại còn trổ cửa để nhiều khi đặt lưng xuống giường
thấy cồm cộm, chết cha, thằng hổ chúa đã mò sang đòi chung giường từ lúc nào...
Dăm ngày sau, từ trại dược ra với
một ba lô rựợu rắn, tôi không quay lại Ban đại diện mà dông thẳng Đà Nẵng,
nơi tôi đã hò hẹn với vợ chồng nhà văn Nguyễn Bảo, thế nào cũng ghé thăm, vừa
rong chơi, vừa viết. Bài ký viết về trại rắn đem in ở Văn nghệ quân đội mới
phát hành được ít ngày tôi nhận được cú điện thoại với những lời trách cứ
nóng nảy của ông Tư Dược. Ông giục tôi phải vào ngay trại dược để giải quyết
hậu quả. Tôi làm báo cũng có khi anh em bảo viết phịa, nhưng chưa bao giờ bị
người được viết bài phản ứng gay gắt như trường hợp ông Tư. Vì thế, không thể
thoái thác, tôi lại lên tàu đi Mỹ Tho.
Gặp lại tôi ở trại dược,
ông Tư giữ tay tôi khư như sợ tội đồ chạy trốn. Nguy nan rồi, tôi thoáng nghĩ.
Ông Tư lôi tôi vào một gian nhà chỉ có mỗi một tráng lão râu tóc luôm nhuôm, cơ
thể sần sẹo và vạm vỡ như đô vật đang ngồi hút thuốc rê phả khói như tàu hỏa.
Ông giới thiệu tôi với tráng lão:
Chính là cha này viết báo phong cho Tư Dược là người nuôi, bắt rắn độc
nhất vô nhị ở vùng Cà Mau – U Minh,lại còn biết khiến rắn hổ nhả nọc.
Ông già nhìn tôi lừ lừ, tay cầm
con dao nhọn gọt xoài, kêu tôi ngồi nhậu để nghe ông hỏi: Ra chú viết báo bảo
cha Tư đây biết sai rắn hổ nhả
nọc?
- Dạ...
- Chú viết vậy là ba láp... nhìn
đây...
Tôi và ông Tư chưa kịp phản ứng
gì, thì tráng lão cầm con dao nhọn gọt xoài bất ngờ rạch hai đường chéo lên
ngưc mình, tứa máu...
Không hề đau đớn, ông buông dao, bảo:
- Nói cho mấy cha biết đây, Tư
Tượng đây thời trẻ từng chim vợ một thằng Tây, sợ bị nó trả thù nên vào U Minh
ở, rồi quen, bắt rắn ở rừng đã ngót tám mươi năm, bị rắn đớp da dẻ toàn sẹo,
không còn biết đau nữa, vậy mà chưa từng thấy ai khiến được rắn hổ nhả
nọc. Các cha đi làm cách mạng, làm tuyên truyền mà ăn nói ba láp, để lừa dân ư
?
Biết rằng với tráng lão một đời
bắt rắn như Tư Tượng thì trăm nghe không bằng mắt thấy.Ông Tư Dược sai mấy sắp
nhỏ đem đến một con rắn hổ. Ông đặt chiếc đĩa tráng men xanh ra chiếu, rồi hai
tay vuốt nhẹ trên mình con rắn để làm quen. Chốc lát, ông ghếch đầu con rắn lên
đĩa rồi bất ngờ bóp vào huyệt ở cổ rắn. Con rắn ngóc đầu, bạnh mang khẹc
một tiếng, phun lấm tấm bụi nọc độc ra đĩa. Xong, ông gọi sắp nhỏ đem con rắn
đi...
Ông Tư Tượng nhìn Tư Dược khiến
con rắn hổ nhả nọc không bỏ qua một chi tiết. Thực là rắn nhả nọc, chứ không
nói giỡn. Ông Tư Tượng chắp hai tay trước mặt, cung kính kiểu nhân vật Lương
Sơn Bạc:
-Tư Tượng này tưởng làm thầy bắt
rắn trong thiên hạ, nay thì xin bái phục mấy cha... Xin dập đầu làm đệ tử.
Nghe đâu sau đó ông Tư Dược ra
quyết định tuyển tráng lão Tư Tượng vào làm ở trai dược liệu Quân khu 9. Nhưng
ngay trong chuyến đi Cà Mau bắt rắn với tư cách lính trại dược, ông Tư Tượng bị
rắn hổ mổ vào huyệt hợp cốc, vô phương cứu chữa, chỉ còn trăng trối lại một câu
với anh lính đi cùng: Hết thời, chết... Ông được mai táng trong nghĩa trang
liệt sĩ Cà Mau, như một người lính...
tôi có một chuyến đi công tác thú
vị nữa, xuất phát từ 36 Lý Tự Trọng, được xe Ban đại diện đưa ra tận bến Ba Son
và lúc lên tàu có màu sắc anh khóa đi thi bởi có mấy em bên Đài truyền hình
thành phố vẫy tay lưu luyến...
Tôi đi Trường Sa, mặc chiếc áo sơ
mi xanh lấy được của Hoàng, cứ như là một chuyến du lịch ra hải đảo.
Tôi nhớ, chuyến ra đảo thật sự
khởi hành từ Cam Ranh vào chiều 16 tháng 3 âm lịch. Cánh nhà báo, rồi văn nghệ
sĩ , đặc biệt là các cô văn công sau này kéo nhau ra đảo thường được bộ đội hải
quân tổ chức cho đi vào dịp tháng ba này. Hàng năm cứ đến tầm tháng ba âm lịch
là thời tiết biển chuyển mùa, gió bắc đuối dần, bàn giao mặt biển cho gió đông
nam. Cuộc bàn giao giữa hai chiều gió thường dùng dằng chừng một tháng. Đó là
tháng mặt biển yên ả, dành cho những người nhát sóng ra đảo như tôi.
Tàu xuất phát từ chiều hôm nay, đến chiều mai thì đảo lớn Trường Sa đã trước
mặt. Đảo thấp, nhìn từ xa chỉ như chiếc mảng đang trôi.
Chân ráo, chân ướt bước lên đảo, chủ khách chưa kịp hỏi han, ông Tiến Cai Đảo
trưởng đã hỏi tôi có theo tàu đi đổ bộ lên đảo Đã Giữa không. Trường Sa là quần
đảo lớn, việc đảo này sang đảo kia không dễ có dịp. Tôi xách ba lô quay lại
tầu, đi tiếp.
Đảo Đá Giữa, phần nhô lên mặt nước chỉ bằng sân bóng chuyền. Là cái sống cát
san hô, phủ đầy phân chim. Từ tàu lên được cái sân bóng chuyền này phải lội bộ
băng qua vành đai đá san hô lập lờ mặt nước, chỉ có thể dò từng bước. Trên đảo,
buổi chiều chúng tôi đổ bộ lên chỉ có chim. Chim nhiều vô kể, nếu không xua thì
chúng đậu cả lên đầu vì tưởng người cũng là các mô đá...
Chim bay tối mắt, nhưng bắt được những chú ó biển- loài đáng được đưa vào thực
đơn bữa tiệc trên Đá Giữa- là không dễ. Loài này tinh khôn, chỉ trong chốc
lát đã tự hiểu tính mạng bị đe doạ từ chủ mới của đảo. Chúng bay ra đậu kín
trên những mỏm đá nhấp nhô ven đảo. Để tóm được lũ ó ranh ma, người bắt chim
phải định hướng trước khi lặn xuống nước. Lặn một hơi, đến sát mô đá thì bất đồ
nhô lên, quờ tay tóm vội lấy vô số chân chim. Đề phòng những chú chim mỏ sắc
nhọn có thể tấn công, người bắt nhanh chóng dìm chim xuống nước, rồi cứ thế mà
dong về bếp đảo...
Chúng tôi khao nhau bữa chim nướng rồi tìm cây cọc trôi dạt nép nước để mắc
võng chống bọ bò lổm ngổm trong bãi phân chim. Ngủ trên mặt nước tưởng dễ ngon
giấc, nhưng tôi đã thức trắng đêm. Không phải vì lạ nước, lạ cái, mà thức vì
cảm giác chênh vênh nằm võng trên ngọn sóng Trường Sa bắt gặp kỷ niệm bao đêm
rừng Trường Sơn... Thật khó biết trước tôi lại có một đêm tăng võng trên đảo...
Từ Đá Giữa trở về Trường Sa lớn đang như ngày hội. Thì ra ngay sau tàu chở thực
phẩm và chúng tôi, có tàu đưa đoàn văn công của bộ đội hải quân ra đảo. Lính
gặp văn công như rồng gặp mây. Đảo râm ran tiếng cười, tiếng đàn, tiếng
hát. Đảo trưởng Võ Tiến Cai túi bụi lo toan tiếp khách. Khác với mọi ngày,
ông cắt cử đến hai tiểu đội lính gác ở mọi xó xỉnh của đảo. Ông phòng xa, sợ
lính lâu ngày ở đảo, gặp các cô văn công, lỡ có chuyện gì thì mang tiếng...
Nhưng chẳng có chuyện gì cả. Các cô ầm ĩ đến rồi các cô thút thít chia tay. Chỉ
có một anh lính đẹp trai quê Thanh Hóa là bị bỏ bùa...
Tôi biết chuyện anh lính bị bỏ bùa sau một tháng ở lại đảo. Hôm lên tàu về đất
liền, anh lính ôm đến chiếc hộp gò tôn, nhờ tôi chuyển về địa chỉ của một trong
số các cô văn công vừa ra đảo... Tôi ôm chiếc hộp chứa đầy san hô đỏ về Sài
Gòn, rồi ôm ra Hà Nội. Rồi lại ôm từ Hà Nội xuống Hải Phòng, ngược xuôi tìm
được tận nhà riêng của cô đào trẻ. Tôi đến, nhưng chỉ ngõ thì lẳng lặng ôm
chiếc hộp tôn san hô đỏ quay ra bởi phải nhường đường cho nhà trai trên phố
bưng quả trầu cau đến xin cưới... Tôi sững sờ như vừa đánh mất cái gì đó,
nhớ khôn nguôi anh lính ở đảo xa. Giờ này hôm nay anh có lặn ngụp để tìm san hô
đỏ cho một lời hen vội...
Sau này tôi kể lại chuyện trên cho chị Mai Trang, đạo diễn phim tài liệu của
Xưởng phim Quân đội làm một cái phim tài liệu có tựa đề Sóng Ngầm. Phim làm xong,
trình chiếu nhưng sức hấp dẫn không nhiều, bởi cô văn công từ chối sự có mặt
trong khuôn hình...
Sau chuyến đi Trường Sa,
tôi rời ban Đại diện vào lúc 2giờ sáng để kịp chuyến xe đò tốc hành chạy suốt
Sài Gòn- Hà Nội. Giờ ấy, cả khu nhà 63 Lý Tự Trọng sáng đèn như ban ngày nhưng
vắng heo. Không còn biết gọi ai vào khuya khoắt này. Tôi nhớ đến nhà thơ bạn
hữu Đỗ Trung Lai đã một lần phải tự bẻ cửa sắt để kịp ra ô tô giao liên đi
Phnômpênh, nên liều làm theo... Nghiêng người ra cửa, tôi xách chiếc túi du
lịch nhàu nát như hành khất khoan khoái thả bộ trên các đường Sài Gòn rợp bóng
me giờ này mới thực sự yên ngủ. Đến gần Nhà thờ Đức Bà, tôi vẫy được xích lô.
Ra bến, tôi lên đại chiếc xe đò tốc hành Nam- Bắc ngủ gà ngủ gật chờ mua vé
trên xe. Xe đã khởi hành. Tôi yên tâm ngủ cho đến khi cậu lơ xe vỗ vai, nhắc
mua vé. Bấy giờ tôi mới biết nhầm xe đi Vũng Tàu. Nói ra sợ bạn đường cười, tôi
bấm bụng xuống Vũng Tàu rồi lẳng lặng tìm lối về lại xa lộ Biên Hòa để vẫy xe
ra Bắc. Dập dềnh đến ba ngày hai đêm tốc hành, xe ra đến Thanh Hóa. Cũng là lúc
trong túi áo tôi chỉ còn đủ tiền mua hai ổ bánh mì khô như rơm để cứu đói...
Rồi cũng về đến Hà Nội và biết rằng đó là chuyến đi cuối cùng của tôi với tư
cách phóng viên báo Quân đội vào thường trú trong ban Đại diện. Chuyến cuối
cùng... Nếu biết trước vậy, tôi sẽ không vội vàng bẻ khóa...
Về nhà đến mấy ngày tôi mở túi
hành lý, chỉ thấy một xấp ảnh đen trắng chụp trong các chuyến đi là đáng quý.
Tôi ném xấp ảnh vào ngăn tủ và bỏ quên ở đó liền mấy chục năm. Cho đến mới rồi
dọn đồ, chuyển nhà tôi may mắn nhặt lại được nguyên vẹn xấp ảnh cũ, đã bợt màu,
người và cảnh như trong sương núi... Như trẻ con chơi trò xếp hình, tôi ngồi
hàng giờ ngắm lại từng ảnh, xếp ảnh nọ vào cạnh ảnh kia, cố xếp theo thời gian,
khung cảnh một vùng đất, một chiến trường, một kỷ niệm... Hơn hai mươi năm rồi.
Bao gian nan và buồn bã của nhiều cuộc hành trình, bao chuyện sống chết chiến
trường giờ cũng chỉ bập bõm, nhớ sao hết những gương mặt một lần trong ống
kính, kể cả những gương mặt của người mà dọc đường sống và hành
nghề tôi đã từng vịn vào vai họ mà đi cho vững... Xin cáo lỗi cùng tri
âm...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét