Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Bệnh gout



  Bệnh gout

Bài thuốc dân gian
Chữa bệnh gout công hiệu
1. Nguyên liệu:
TT
Tên nguyên liệu
Số lượng
1
Chuối hột (Thái mỏng, phơi khô)
150 gam
2
Củ dáy (Thái mỏng, phơi khô)
200 gam
3
Tỳ giải (Mua ở hiệu thuốc bắc)
100 gam
4
Mộc quả (Mua ở hiệu thuốc bắc)
50 gam
2. Chế biến:
- Tất cả sao vàng, hạ thổ.
- Chia ra 25 gói nhỏ.
- Mỗi gói pha với 1 lít nước sôi (Uống như pha trà) và uống trong 1 ngày hết một gói. Uống liền trong  ngày


Cách chữa bệnh Gout của người dân tộc Tày

- Chữa trị bệnh gout theo Đông y là chữa từ gốc nguyên nhân gây bệnh. Theo cách nhìn của y học cổ truyền, bệnh gout còn gọi là bệnh thống phong thuộc phạm vi chứng tý. Bệnh do ngoại tà xâm nhập cơ thể gây tắc nghẽn kinh lạc, khí huyết ứ trệ tại khớp gây đau, co duỗi khó khăn. Bắt đầu bệnh còn ở cơ biểu kinh lạc, bệnh lâu tà khí vào gân xương gây tổn thương tạng phủ, chức năng của khí huyết, tân dịch bị rối loạn, tân dịch ứ trệ thành đàm, khí huyết ngưng trệ thành ứ, đàm ứ kết mà hình thành các u cục ở quanh khớp, dưới da. Bệnh tiến triển lâu ngày gây tổn thương đến can thận. 
 - Người dân tộc Tày chữa bệnh gút bằng bài thuốc dân gian rất hiệu quả mà lại không tốn nhiều tiền. Tôi đưa lên đây mong được chia sẻ với nhiều người đang phải chịu đau đớn về căn bệnh này. Nguyên liệu của bài thuốc là: Hạt đậu xanh.
- Theo Đông Y :
- Đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ phiền nhiệt, bớt sưng phù, điều hòa ngũ tạng, nấu ăn bổ mát và trừ được các bệnh thuộc nhiệt. Vỏ đậu xanh không độc, có tác dụng giải nhiệt độc, dùng chữa mụn, ung nhọt… 
- Bài thuốc rất đơn giản: Đậu xanh để nguyên vỏ, ninh nhừ, (không cho thêm gia vị). Sáng ngủ dậy ăn một bát (bát ăn cơm) thay ăn sáng. Tối trước khi đi ngủ ăn một bát. Ăn liên tục như vậy trong 30 ngày.
- Nếu đau có thể dùng thêm bài thuốc đắp ngoài da: - Hành ta (3 củ), lá Ngải (một nắm), nước Gừng tươi. – Giã đắp vào chỗ đau.( Mỗi ngày thay một lần).
- Có thể uống kết hợp rượu ngâm mật gấu rừng ( mật gấu nuôi không có tác dụng chữa bệnh) hoặc cây mật gấu vào buổi tối ( mỗi ngày một ly nhỏ).
- Lưu ý:
- Không dùng thuốc gì kết hợp vì đậu xanh làm giã thuốc, thuốc không có tác dụng.
- Uống nhiều nước trong ngày.
- Kiêng : Nội tạng động vật, hải sản, thịt chó, nước chè, các chất khó tiêu, các chất kích thích mạnh, cay, nóng.
- Ăn nhiều rau xanh, hoa quả.
Bài thuốc món ăn trên tôi đã chia sẻ với rất nhiều người và đều có kết quả tốt. Giờ có thể ăn uống thoải mái mà không phải kiêng khem gì.
+ Cháo đậu xanh là một món ăn rất ngon và bổ dưỡng. Vậy thiết nghĩ chúng ta không có bệnh nhưng cũng nên ăn thường xuyên để bồi bổ cơ thể và giải độc trong người. Phụ nữ thường xuyên ăn cháo đậu xanh da sẽ rất đẹp.
·       (Mấy lời ngắn ngủi không thể dãi tỏ hết tấm lòng. Mong cho mọi người ai có bệnh thì chữa khỏi bệnh, ai không có bệnh thì thêm sức khỏe và luôn trẻ đẹp. Những ai đọc được bài này dẫu thân không bệnh tật cũng nên chia sẻ cho nhiều người được biết.-Vì sức khỏe cộng đồng. )  
MA ĐÌNH TÚ (A TÚ)


Gout là gì?
Bạn bị đánh thức đột ngột vào nửa đêm, nguyên ngân  là ngón chân cái như bị lửa đốt. Nó nóng rát, sưng phồng, đau đớn và cảm giác nặng nề không thể chiu đựng nổi. Trường hợp này có lẽ bạn đang bị cơn Gout cấp tính  (viêm khớp do Gout) – một dạng viêm khớp đặc trưng bởi các cơn đau nặng nề, đột ngột, khớp sưng đỏ.
Gout là một bệnh lý có lẽ được biết đến lâu đời nhất của loài người – đã hơn 2000 năm nay. Ngày xưa nó đuợc xem như là “bệnh của vua chúa” vì thường xuất hiện trên những người giàu sang với những đồ ăn thức uống của người giàu. Ngày nay người ta biết rõ rằng đây là một rối loạn phức tạp ảnh hưởng lên mọi người không chỉ riêng cho người giàu. Tại Việt Nam, hiện có đến hàng triệu người đang phải khổ sở vì bệnh này.
Nam giới thường mắc bệnh này nhiều hơn phụ nữ. Bệnh Gout ở nữ thường xảy ra sau mãn kinh. Đây là một bệnh chữa trị được và có nhiều cách để phòng ngừa tái phát.
Dấu hiệu và triệu chứng :
Các triệu chứng Gout hầu hết là cấp tính, xảy ra một cách đột ngột, thường vào ban đêm, không có triệu chứng báo trước. Gồm:
Đau khớp dữ dội. Gout thường ảnh hưởng những khớp lớn trên ngón chân cái, nhưng cũng có thể ở khớp bàn chân, mắt cá chân, gối, bàn tay, cổ tay,…Cơn đau điển hình có thể kéo dài 5-10 ngày rồi ngưng. Khó chịu sẽ giảm dần dần sau 1-2 tuần, các khớp có vẻ không có gì bất thường.
Viêm đỏ. Các khớp bị sưng đỏ và đau.
Nguyên nhân :
Bệnh này do nồng độ acid uric trong máu tăng quá cao. Acid uric là một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của purin. Chất này có thể thấy trong tự nhiên như một số loại thực phẩm – tạng động vật như gan, não, thận, lách – và cá trồng, cá trích, cá thu. Purin cũng có trong tất cả các loại thịt, cá và gia cầm.
Thông thường thì acid uric bị phân hủy trong máu và được thải ra ngoài qua thận để ra nước tiểu. Nhưng đôi khi cơ thể bạn tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu quá ít. Hậu quả là acid uric trong máu tăng lên, tích lũy dần dần và lắng đọng thành những tinh thể sắc nhọn hình kim tại các khớp hoặc các bao quanh khớp gây ra triệu chứng đau đớn, viêm sưng khớp.
Một số tình trạng khác, gọi là giả Gout, cũng có tình trạng lắng đọng tinh thể ở khớp nhưng không phải tinh thể acid uric mà là tinh thể calcium pyrophosphate dihydrate. Bệnh giả Gout cũng có thể gây đau khớp ngón chân cái tương tự Gout nhưng thường thì ở các khớp lớn hơn như gối, cổ tay hoặc mắt cá chân.
Yếu tố nguy cơ :
Những yếu tố hay hoàn cảnh sau có thể làm tăng acid uric máu cũng như tăng nguy cơ bệnh Gout:
Lối sống. Thường nhất là uống nhiều cồn (alcohol), đặc biệt là bia. Uống nhiều nghĩa là hơn hai cốc ở nam và một cốc ở nữ mỗi ngày. N61u thể trọng tăng cao hơn cân nặng lý tưởng 15kg cũng làm tăng nguy cơ bệnh Gout.
Một số bệnh lý và thuốc. Một số bệnh lý và thuốc điều trị cũng có thể làm bạn tăng nguy cơ bị Gout, như tăng huyết áp, đái tháo đường, mỡ trong máu cao, hẹp lòng động mạch (do xơ vữa động mạch), phẫu thuật, các bệnh lý và tổn thương nặng, đột ngột, ít vận động,…cũng làm tăng acid uric máu. Một số thuốc như lợi tiểu thiazide (một thuốc điều trị tăng huyết áp bằng cách làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể), aspirin liều thấp và cyclosporine (một thuốc sử dụng cho những người được ghép mô để chống thải loại mảnh ghép). Hóa trị liệu trong một số bệnh như ung thư làm hủy diệt tế bào và phóng thích một lượng lớn purin vào máu.
Gen di truyền. Một phần tư số bệnh nhân bị Gout có tiền sử gia đình bệnh này.
Tuổi và giới. Nam giới có tần suất bệnh cao hơn nữ. Phụ nữ có nồng độ acid uric máu thường thấp hơn nam, nhưng đến tuổi sau mãn kinh lại tăng lên. Nam thường bị Gout trong khoảng 30-50 tuổi, còn nữ từ 50-70.
Biến chứng  :
Một số bệnh nhân bị Gout tiến triển đến viêm khớp mạn tính, thường có sự thay đổi màu do lắng đọng các tinh thể dưới da cọi là sạn urat (tophi). Một số ít có thể bị sỏi thận.
Điều trị :
Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) dùng làm giảm đau, kháng viêm trong các cơn Gout cấp tính. Gồm các thuốc như: indomethacin (Indocin) hoặc các thuốc bán tự do ở nhà thuốc như Ibuprofen (Advil, Motrin,…). Bác sĩ cũng có thể kê toa cho bạn các kháng viêm steroid như prednisone.
Tuy nhiên hãy cẩn thận với các thuốc này và tham vấn ý kiến bác sĩ của bạn cụ thể cách dùng và thời gian dùng (thường chỉ nên dùng từ 3-10 ngày), vì nếu điều trị kéo dài chúng có thể gây các biến chứng như viêm loét và xuất huyết dạ dàt tá tràng.
Trường hợp bạn bị cơn Gout cấp, bác sĩ có thể cho bạn dùng Colchicin hoặc chích Cortisone thẳng vào khớp, đồng thời dùng các biện pháp điều trị ngăn ngừa nhằm hạ lượng acid uric trong máu của bạn.
Phòng ngừa :
Hiện chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự khởi phát và tái phát của các cơn Gout. Nếu bạn bị Gout, bác sĩ của bạn sẽ cho bạn dùng một số thuốc giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu độ nặng của các cơn tái phát sau này. Các thuốc này gồm có Allopurinol (Zyloprim, Aloprim) và probenecid (Benemid), dùng hàng ngày giúp giảm nồng độ và tốc độ sản xuất acid uric. Việc duy trì nồng độ acid uric ổn định ở giới hạn bình thường là cách ngăn ngừa bệnh Gout lâu dài và hiệu quả nhất.
Tự chăm sóc bản thân :
Thay đổi lối sống không thể điều trị bệnh Gout, nhưng rất hữu ích để hỗ trợ điều trị. Các biện pháp sau giúp giảm và ngăn ngừa triệu chứng :
Giảm béo. Duy trì cân nặng hợp lý bằng cách giảm cân từ từ giúp giảm nồng độ acid uric máu, đồng thời giảm bới sự chịu đựng sức nặng của các khớp. Tuy nhiên không nên nhịn đói để giảm cân nhanh vì như vậy lại càng làm tăng acid uric máu.
Tránh ăn quá nhiều đạm động vật. Đây là nguồn chứa nhiều purin. Các thực phẩm chứa nhiều purin như tạng động vật (gan, thận, não, lách), cá trồng, cá trích, cá thu,…các loại thịt, cá, gia cầm chứa ít purin hơn.
Giới hạn hoặc tránh rượu. Uống quá nhiều rượu làm giảm bài tiết acid uric. Giới hạn dưới hai cốc mỗi ngày nếu bạn là nam, môt cốc nếu bạn là nữ. Nếu bạn đang bị Gout, tốt nhất nên tránh hoàn toàn rượu bia.
Ăn uống nhiều nước, chất lỏng. Dịch làm pha loãng nồng độ acid uric trong máu bạn.
                                                        Bs Phạm Xuân Hậu



Đã tìm thấy nguyên nhân bệnh gút ?
Một nguyên nhân khiến cho hàng triệu người trên thế giới bị đau nhức ở các khớp xương hay còn được gọi là bệnh gút, có thể đã được các khoa học gia phát hiện.
Tại Anh quốc, số người mắc phải bệnh gút đã tăng hàng năm và nguyên nhân được cho là vì họ ăn uống không điều độ. 
Tuy nhiên, một cuộc thử nghiệm gene trên một mẫu hơn 12 ngàn người, được công bố trên tạp chí Nature Genetics, đã phát hiện rằng một gene có thể là nguyên nhân đã đưa đến sự gia tăng này. 
Các nhà nghiên cứu thuộc đơn vị MRC Human Genetics Unit, tại thành phố Edinburgh, nói rằng gene này và chất protein mà gene kiểm soát, có thể một ngày nào đó là chủ để nghiên cứu để chế tạo ra thuốc mới để trị bệnh này.
Một số người có nguy cơ cao hơn hoặc thấp hơn mắc phải bệnh gút tùy theo gene mà họ thừa hưởng 
Trong một cơ thể khỏe mạnh, acid uric, một chất phế thải xuất hiện trong máu, được thận lọc ra và thải khỏi cơ thể qua đường nước tiểu. 
Tuy nhiên, ở một số người, thận không làm được chức năng này một cách triệt để, và acid uric tích tụ trong máu, kết thành tinh thể ở các khớp xương và dẫn đến tình trạng viêm, gây đau nhức cho người bệnh. 
Nhiều loại thực phẩm đã bị cho là làm gia tăng nguy cơ bị bệnh gút, nhất là thức ăn có hàm lượng cao đường, protein và thức uống có chứa cồn. 
Nhiều ngàn người ăn uống các loại thực phẩm mà theo các bác sĩ sẽ làm gia tăng nguy cơ bệnh gút, nhưng trên thực tế chỉ có một số ít đã mắc bệnh này mà thôi. 
Các khoa học gia tại đơn vị MRC Human Genetics đã nghiên cứu về bệnh này và khám phá ra rằng gene với ký hiệu SLC2A , có thể làm cho cơ thể khó thải chất acid uric ra khỏi máu. 
Giáo sư Alan Wright, hiện đang hướng dẫn công trình nghiên cứu này, nói: "Gene này là một nhân tố then chốt trong việc chuyển tải acid uric qua các vùng khác nhau của thận". 
Đồng nghiệp của ông là giáo sư Harry Campbell nói : "Một số người có nguy cơ cao hơn hoặc thấp hơn mắc phải bệnh gút tùy theo gene mà họ thừa hưởng". 
"Phát hiện này sẽ giúp cho việc phát triển các phương thức tốt hơn để chẩn đoán bệnh gút".
Ngay trong lúc này, các thuốc để chữa bệnh gút còn hạn chế. 
Mặc dù bệnh gút là một bệnh mà thông thường được tìm thấy trong sách vở, nhưng tại nước Anh có khoảng một triệu người được ước lượng bị mắc phải bệnh này.
Theo BBC



Người giàu “khóc” vì gút

Trước kia, bệnh gút có tên gọi là “bệnh của vua” hay “bệnh của người giàu” nhưng ngày nay không phải chỉ người giàu mới mắc bệnh. Bệnh khá phổ biến ở các nước phát triển và ngày càng gia tăng ở Việt Nam cùng với việc tăng mức sống của người dân.

Sướng miệng, khổ thân  
Bây giờ, anh Nguyễn Văn Sơn, 45 tuổi, ở Cầu Giấy, Hà Nội mới nhận ra được “chân lý” này. Anh mới được phát hiện bị bệnh gút từ mấy tháng nay. Theo chỉ định của bác sĩ, anh đã không bỏ sót viên thuốc nào và tuân thủ chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt. Thế rồi, trong buổi gặp mặt kỷ niệm ngày 22-12 với đồng đội cũ, mải vui anh quên mất lời dặn của bác sĩ. Anh không bỏ sót lần nâng ly nào. Đêm đến, anh đánh thức cả nhà dậy vì tiếng rên rỉ đau đớn với bàn chân sưng tấy, đỏ ửng. 
Gút là một bệnh khớp mạn tính do rối loạn chuyển hóa axít uric trong máu (một sản phẩm được tạo ra trong quá trình chuyển hoá protein trong cơ thể). Bệnh gút xuất hiện khi axít uric ở dạng muối urat lắng đọng tại các mô mềm quanh khớp hoặc màng hoạt dịch của khớp và gây viêm khớp hoặc viêm các phần mềm quanh khớp (dây chằng, gân...).  Trong cơn gút điển hình, bệnh nhân bị sưng nóng đỏ đau tại các khớp hoặc các tổ chức phần mềm quanh khớp ở chi dưới như: khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân (ngón chân cái), khớp gối... Cơn đau dữ dội, nóng rát, thường xuất hiện vào nửa đêm gần sáng và thường sau một bữa thịnh soạn, có nhiều thức ăn làm tăng quá mức axít uric (thịt, hải sản, tim, gan, sôcôla...), do uống rượu, sau một chấn thương hay sau khi sử dụng thuốc lợi tiểu... Nó thường giảm đi khi uống thuốc colchicine. 
Trong cơn gút không điển hình, bệnh nhân bị sưng đau các khớp đầu tiên ở chi dưới, sau đó sẽ xuất hiện ở cả chi trên, nhưng sẽ tự hết dù có uống thuốc hay không. Tình trạng viêm khớp đó tái hiện phát nhiều lần, dần dần sẽ xuất hiện thêm các hạt cứng ở quanh khớp (gọi là hạt Tophy). Những hạt này có thành phần là tinh thể urat, sẽ làm biến dạng khớp, mất chức năng vận động của khớp. 
Gia tăng bệnh nhân ở Việt Nam
Nếu như thống kê trong vòng 10 năm (1978-1989) ở Bệnh viện Bạch Mai cho thấy số bệnh nhân bị bệnh gút chiếm 1,5% các bệnh khớp thì từ năm 1996 đến 2000, con số này đã tăng lên 10%. Sự gia tăng này cũng được Viện trưởng Viện Dinh dưỡng khẳng định trong một hội nghị của Viện gần đây. Những thống kê cũng cho thấy, 95% người bệnh là nam giới ở tuổi 30-40. Đặc biệt, người bệnh thường có tiền sử gia đình bị gút, có rối loạn về gen, có chế độ ăn nhiều đạm, đặc biệt là thịt chó, lòng, tiết, các phủ tạng..., uống nhiều rượu... 
Về điều trị, mặc dù hiện nay chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh, nhưng nếu bệnh nhân được chuẩn đoán sớm, điều trị đúng tại các cơ sở chuyên khoa khớp sẽ kiểm soát được bệnh, hạn chế được các hậu quả của bệnh khi tiến triển mạn tính. 
Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, đã có biến chứng nặng, ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây tàn phế. Điều trị bệnh gút chỉ có hiệu quả khi bệnh nhân tuân thủ chế độ ăn kiêng (ăn ít thịt dưới 150g/ngày), uống nhiều nước, hạn chế các thức ăn, đồ uống có nguy cơ cao cho cơn gút cấp tính (rượu, cà phê, thịt chó, tim, bầu dục, tôm, cua...). 
Ngoài ra, bệnh nhân cần thường xuyên khám bác sĩ và duy trì thuốc đều đặn đề phòng cơn tái phát theo chỉ dẫn của bác sĩ, không được tự bỏ thuốc. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân chỉ quan tâm đến việc điều trị khi chân bị sưng. Nếu không được chẩn đoán và điều trị bệnh sẽ tiến triển mạn tính: viêm các khớp, huỷ các khớp xương, xuất hiện hạt Tophy tại các khớp, sỏi thận, suy thận và có thể tử vong. 
Tiến sĩ Thanh Thuỷ



Gout - bệnh của quý ông "tốt tướng"

Đây là căn bệnh thiên vị đặc biệt: dường như hoàn toàn tha cho quý bà mà chỉ thăm viếng quý ông. Tuy nhiên, các quý bà lại là người đầu tiên nên biết về chứng bệnh nguy hiểm này để phòng ngừa từ trong gian bếp cho chồng mình.

  Gout, dân gian hay gọi là bệnh gút hay thống phong, là bệnh được biết và mô tả từ thời Hy Lạp cổ. Ngay từ thế kỉ 4 trước Công Nguyên, Hyppocrates đã mô tả một biểu hiện rất đặc trưng của bệnh sưng tấy, nóng, đỏ và rất đau ở ngón chân cái, ông còn gọi bệnh Gout là "Vua của các bệnh" và "bệnh của các vua".
 Bệnh Gout thường chỉ xuất hiện ở nam giới tuổi trung niên. Nguyên nhân gây bệnh là tình trạng thừa axit uric (trên 1mg/1 cc máu) do cơ thể được cung cấp quá nhiều chất đạm. Lượng axit uric sẽ kết lại thành các tinh thể đóng ở các khớp, gây đau.   Tuy nhiên không phải cứ có axit uric cao là bị bệnh Gout. Nếu chỉ có axit uric máu cao đơn thuần, chỉ được gọi là tình trạng tăng axit uric máu không triệu chứng. Bênh Gout chỉ xảy ra khi tình trạng tăng axit uric máu gây hậu quả xấu cho cơ thể. Hậu quả trước mắt là các đợt viêm khớp Gout cấp - nỗi kinh hoàng cho những ai bị Gout, tuy nhiên ở giai đoạn đầu các đợt viêm này thường không kéo dài, không thường xuyên và rất dễ chữa. Nếu bệnh không được điều trị đúng và đủ, các đợt viêm khớp sẽ xuất hiện thường xuyên hơn và kéo dài hơn, khó chữa hơn và hậu quả lâu dài, cố định của bệnh sẽ là viêm nhiều khớp, xuất hiện nhiều u cục quanh khớp, cứng khớp, biến dạng khớp, tàn phế, sỏi hệ tiết niệu, đặc biệt là sỏi thận và nguy hiểm hơn cả là suy chức năng thận. Đây là nguyên nhân chính làm giảm tuổi thọ của các bệnh nhân Gout.
Những ai dễ bị Gout?

Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh là 0,3% dân số người lớn, nghĩa là cứ 330 người lớn thì có một người mắc bệnh Gout. Bệnh thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp, dân gian thường gọi là "tốt tướng". Phụ nữ rất ít bị bệnh Gout, nếu bị thường là lứa tuổi trên 60.

Thường nhất là bắt đầu vào cuối tuổi 30 và đầu 40 của cuộc đời, với những người có cuộc sống vật chất sung túc, dư thừa dinh dưỡng.

Vì hai đặc điểm này mà các vị giám đốc trẻ, hay những người đàn ông thành đạt nói chung nên lưu tâm hơn về căn bệnh này.

Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa, bệnh nhân Gout thường thừa cân, thường mắc thêm một hay nhiều bệnh như: Xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa mỡ, tiểu đường, rối loạn lipid máu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh mạch não...Nói cách khác, các bệnh nhân bị cách bệnh nói trên rất dễ bị Gout.

Làm sao biết mình bị Gout?

Bệnh khởi phát cấp tính, thường vào nửa đêm gần sáng, với tính chất sưng tấy, nóng, đỏ mọng, đau dữ dội và đột ngột ở một khớp (không đối xứng). Thường gặp nhất ở ngón chân cái, kế đó là khớp bàn chân, khớp cổ chân, các ngón chân khác, khớp gối, bàn tay và các khớp và các vùng gần khớp khác.

Có thể có kèm một số triệu chứng toàn thân như sốt cao, lạnh run, ớn lạnh...Thậm chí, một số trường hợp gây nhức đầu, ói mửa, cổ gượng (do phản ứng màng não).

Hiện tượng viêm cấp tuy rất rầm rộ nhưng cũng chỉ kéo dài 5-10 ngày, rồi khỏi toàn thân, không để lại di chứng gì tại khớp. Nếu được dùng thuốc sớm, đúng thuốc, đúng liều lượng bệnh sẽ hết rất nhanh (dưới 5 ngày). 

Bệnh tái phát từng đợt với xu hướng càng ngày càng nhiều đợt viêm hơn, các đợt viêm khớp ngày càng dài ra, càng lâu khỏi hơn, càng có nhiều khớp bị viêm hơn... 

Gout nguy hiểm đến mức nào?

Hậu quả trước mắt là các đợt viêm khớp Gout cấp - nỗi kinh hoàng cho những ai bị Gout, tuy nhiên ở giai đoạn đầu các đợt viêm này thường không kéo dài, không thường xuyên và rất dễ chữa. Nếu bệnh không được điều trị đúng và đủ, các đợt viêm khớp sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, kéo dài hơn, khó chữa hơn và hậu quả lâu dài, cố định của bệnh sẽ là viêm nhiều khớp, xuất hiện nhiều u cục quanh khớp, cứng khớp, biến dạng khớp, tàn phế, sỏi hệ tiết liệu đặc biệt là sỏi thận nguy hiểm hơn cả là suy chức năng thận, đây là nguyên nhân chính làm giảm tuổi thọ của các bệnh nhân Gout.

Với những hiểu biết hiện nay về bệnh Gout, với những phương tiện và thuốc men hiện có, bệnh Gout được coi là bệnh dễ chuẩn đoán, có thể chuẩn đoán sớm và có thể điều trị đạt kết quả cao. Tuy nhiên trên thực tế ở nước ta, mọi việc hầu  như bị đảo ngược và lý do cơ bản là  sự thiếu hụt kiến thức về một bệnh lý thường gặp. Sự thiếu hụt kiến thức này không chỉ ở cộng đồng, ở người bệnh mà còn ở cả nhiều thầy thuốc (hay bị chẩn đoán nhầm là nhiễm trùng và cho uống thuốc kháng sinh hoặc chuẩn đoán chung chung vô nghĩa là thấp khớp, viêm đa khớp). Chính sự thiếu hụt kiến thức này đã biến một bệnh dễ chuẩn đoán, dễ chữa thành bệnh nan y! Và khi đã thành nan y thì nguy cơ tử vong là rất gần trong nhiều trường hợp.
Bệnh Gout có dễ chữa hay không?
Hiện đã có thuốc chữa bệnh gút nhưng chỉ có tác dụng ở giai đoạn sớm. Thường chỉ nửa ngày sau khi uống thuốc, các triệu chứng bệnh sẽ rút hết. Nhưng nếu bệnh nhân không kiêng cữ đúng mức, bệnh sẽ tái phát. Điều đó có nghĩa là, hiện nay chưa có thuốc nào điều trị được tận gốc căn bệnh.
Bệnh nhân Gout có thể dùng làm thuốc Colchicin để chống viêm và Allopurinol để làm giảm nồng độ axit uric trong máu (theo chỉ định của bác sĩ). Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là dự phong bằng cách thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, tránh ăn thức ăn giàu đạm và uống nhiều rượu bia.



Các bệnh lý đi kèm với gout:
Béo phì: Có sự liên quan giữa trọng lượng cơ thể và nồng độ acid uric máu. Tỉ lệ bệnh gout tăng rõ rệt ở những người có trọng lượng cơ thể tăng trên 10 %. Béo phì làm tăng tổng hợp acid uric máu và làm giảm thải acid uric niệu, kết hợp của cả 2 nguyên nhân gây tăng acid uric máu. Theo các thống kê gần đây, 50 % bệnh nhân gout có dư cân trên 20 % trọng lượng cơ thể.
  Tăng lipid máu:
Sự kết hợp giữa tăng TG máu và tăng acid uric máu đã được xác định chắc chắn. Có đến 80 % người  tăng TG máu có sự phối hợp của tăng acid uric máu, và khoảng 50 % - 70 % bệnh nhân gout có kèm tăng TG máu. 
Ở bệnh nhân gout, ngoài sự rối loạn của thành phần TG, người ta còn nhận thấy có sự rối loạn của HDL, một loại lipoprotein có lợi, có tính bảo vệ đối với cơ thể. 
Sự liên quan giữa gout và rối loạn lipid máu chính là một phần của hội chứng chuyển hoá bao gồm tăng BMI, béo phì vùng bụng, tăng TG, giảm HDL, tăng huyết áp, tiểu đường, tình trạng đề kháng insulin và nguy cơ bị bệnh mạch vành. Tăng acid uric máu kết hợp với béo phì vùng bụng là nhóm nguy cơ cao của bệnh tim mạch có liên quan đến sự đề kháng insulin.
Tăng huyết áp:
Tăng acid uric máu được phát hiện ở 22 – 38 % bệnh nhân tăng huyết áp không được điều trị. Tỉ lệ bệnh gout trong dân số tăng huyết áp là 2 –12 %. Mặc dù tỉ lệ tăng acid uric máu tăng ở đối tượng tăng huyết áp nhưng không có sự liên quan giữa acid uric máu và trị số huyết áp. Có 25 – 50 % bệnh nhân gout có kèm tăng huyết áp, chủ yếu ở các bệnh nhân béo phì. Nguyên nhân gây nên mối liên hệ giữa bệnh gout và tăng huyết áp hiện nay chưa được biết rõ.
 Xơ mỡ động mạch:
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ mối liên quan giữa gout và xơ mỡ động mạch. Tuy vậy tăng acid uric máu không phải là yếu tố nguy cơ trực tiếp của bệnh mạch vành. Tăng huyết áp, tiểu đường, xơ mỡ động mạch liên quan nhiều đến tình trạng béo phì hơn là liên quan đến sự tăng acid uric máu. ở bệnh nhân gout, các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như tăng huyết áp, béo phì, đề kháng insulin, tăng TG máu góp phần làm tăng sự liên quan giữa acid uric máu và xơ mỡ động mạch. Các yếu tố nguy cơ này tự nó làm tăng nguy cơ của bệnh tim mạch, và như vậy, acid uric máu chỉ gián tiếp làm tăng nguy cơ đột tử do bệnh tim mạch thông qua việc kết hợp với các bệnh lý có nguy cơ cao nói trên.
Bác sĩ  Nguyễn Thu Giang



Các thể bệnh gout

Gout có 2 thể bệnh là gout nguyên phát và gout thứ phát. Gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gen và mang tính gia đình rõ rệt. Đây là nguyên nhân chủ yếu của bệnh. out thứ phát là tình trạng tăng acid uric thứ phát do các nguyên nhân khác nhau như : 
- Tăng phân huỷ purine đường ngoại sinh do ăn nhiều thức ăn có nhiều purine (thịt, phủ tạng động vật, cá, hải sản). 
- Tăng thoái hoá purine theo đường nội sinh do các tế bào trong cơ thể bị phá huỷ, gặp trong các bệnh máu ác tính (leukemie, lymphoma), đa hồng cầu, tán huyết, hóa trị liệu trong điều trị ung thư, hoặc sau khi dùng một số thuốc như salicylates liều thấp (dưới 2g/ngày), lợi tiểu, ethanol, pyrazinamide, ethambutol, nicotinamide, cyclosporine. 
- Giảm thải acid uric qua thận trong các bệnh lý thận như viêm cầu thận mạn, suy thận mạn.
Bác sĩ  Nguyễn Thu Giang

lịch sử bệnh gout
Gout được biết đến từ thời Hipocrate vào thế kỷ thứ V trước công nguyên, nhưng mãi đến năm 1683, Sydenham mới mô tả đầy đủ diễn biến lâm sàng của cơn gout cấp, và đến cuối thế kỷ XIX, Schelle, Bargman và Wollaston mới tìm thấy vai trò của acid uric trong nguyên nhân gây bệnh, do đó bệnh gout còn được gọi là viêm khớp do acid uric.
 Vào những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nghiên cứu sâu hơn về sinh học tế bào, cơ chế sinh lý bệnh của tình trạng tăng acid uric máu và bệnh gout, vai trò quan trọng của tinh thể urate, tìm ra các nhóm thuốc điều trị bệnh dựa vào nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh cụ thể, do vậy hiệu quả điều trị đã tăng rõ rệt: Kiểm soát tốt cơn gout cấp, ngăn ngừa các cơn viêm khớp tái phát, hạn chế biến chứng sỏi thận và các bệnh lý về thận. Đặc biệt từ khi phát hiện ra tác dụng đặc biệt của colchicine đối với cơn gout cấp thì  việc điều trị đã thu được kết quả nhanh chóng và vấn đề chẩn đoán dựa trên lâm sàng đã trở nên đơn giản
Bác sĩ  Nguyễn Thu Giang

Tăng axit uric máu
có thể gây ra hàng chục bệnh
Ngoài việc gây bệnh gút, tình trạng tăng axit uric máu có thể gây tổn thương cho nhiều cơ quan như mạch máu, tim, mắt, màng não, cơ quan sinh dục...
Nếu như cách đây 2 thập niên, tình trạng tăng axit uric trong dân Việt Nam ước tính chỉ 1%-2% thì hiện nay, con số đó đã cao hơn nhiều. Một khảo sát của Phòng Tư vấn Sức khỏe Saigon Times năm 2004 cho thấy, trong số 50 bệnh nhân đến khám vì những nguyên nhân khác nhau, có đến 60% bị tăng acid uric máu. Ước tính có khoảng 8 triệu người Việt Nam lâm vào tình trạng này.
Bác sĩ Thái Thị Hồng Ánh, Trưởng khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, khẳng định, tình trạng tăng axit uric máu trong cộng đồng hiện khá phổ biến. Bằng chứng là mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận điều trị vài ca bệnh gút (biểu hiện thường gặp của tăng axit uric), trong khi trước đây chỉ có vài chục ca/năm.
Bác sĩ Lương Lễ Hoàng thuộc Phòng Tư vấn Sức khỏe Saigon Times cho biết, axit uric là phế phẩm của quá trình phân hủy chất đạm purin và được tống xuất khỏi cơ thể qua đường tiểu. Việc tăng nhập purin hoặc giảm xuất axit uric đều dẫn đến tăng axit uric trong máu. Có hai yếu tố thuận lợi dẫn đến điều này. Đầu tiên là yếu tố di truyền, một số đối tượng có thể tạng dễ bị rối loạn chức năng phóng thích axit uric qua đường tiểu. Thứ nhì là yếu tố môi trường, phổ biến nhất là việc ăn uống quá nhiều chất đạm purin, có trong da gà, đồ lòng, giò heo, nạm bò, lươn, cá biển (đặc biệt là cá mòi, cá nục), thịt rừng (đa số), lạp xưởng. Theo nhiều chuyên gia dinh dưỡng, purin trong thực phẩm không trực tiếp gây hại mà chỉ trở thành độc chất khi ăn kèm với mỡ động vật. Cơ chế gây bệnh ở đây là chất béo ngăn cản quy trình bài tiết axit uric qua đường tiểu.
Khi phân tích thói quen của những người có tăng axit uric máu, bác sĩ Hoàng nhận thấy họ có 2 thói quen tai hại, đó là uống ít nước (không đủ 1,5 lít/ngày) và nhịn tiểu (bận làm việc). Điều này có thể lý giải phần nào hiện tượng dù không sử dụng nhiều thực phẩm có purin, nhưng họ vẫn bị tăng axit uric.
Theo bác sĩ Hồng Ánh, việc tăng axit uric máu có thể gây tổn thương ở nhiều cơ quan. Nếu chúng kết tủa và lắng đọng ở tim mạch thì gây viêm mạch máu, viêm màng ngoài tim; ở vùng đầu gây ra viêm kết mạc, viêm mống mắt, viêm tuyến mang tai, viêm màng não. Nếu kết tủa ở vùng sinh dục, các tinh thể uric gây viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt. Ở thận, chúng gây sỏi urat...
Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là bệnh gút, do axit uric kết tủa thành sạn trong khớp, dẫn đến hiện tượng viêm khớp (sưng, nóng, đỏ, đau) tái phát nhiều lần trong suốt đời. Khi mới bị, cơn đau rất thưa, cách 6 tháng, 1-2 năm hay hơn nữa. Nhưng sau vài năm, cơn đau sẽ ngày càng gần lại, dẫn đến biến dạng khớp ở bàn tay, bàn chân... Theo một nghiên cứu tại Hà Lan trong năm qua, người ta ghi nhận những bệnh nhân gút tuổi trung niên thường dễ bị tăng huyết áp (nguy cơ 43%), tăng cholesterol trong máu (5%) và tiểu đường (hơn 50%). Vì thế, các chuyên gia về khớp có một nhìn nhận mới: gút là dấu hiệu sớm của các bệnh tim mạch!
Không phải rượu nào cũng làm tăng nguy cơ bị gút
Đó là ý kiến của các chuyên gia y học Mỹ tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts. Họ khảo sát 47.000 nhân viên y tế nam trong vòng 12 năm, trong số đó có 730 người phát bệnh gút và nhận thấy, những ai uống 2 lon bia hay nhiều hơn mỗi ngày thì có nguy cơ bị gút gấp 2,5 lần người không uống. Dùng rượu mạnh cũng làm tăng nguy cơ, nhưng chỉ ở mức 1,6 lần. Những ai uống rượu vang với mức độ vừa phải thì không có nguy cơ bị gút.
Người đứng đầu nghiên cứu, tiến sĩ Hyon Choi, nói: “Điều này gợi ý rằng một vài chất trong bia, rượu đã đóng vai trò gây bệnh gút”. Theo ông, “thủ phạm” chính có thể là phức hợp purin, có rất nhiều trong bia và nhất là rượu. Bàn luận về nghiên cứu này, tiến sĩ Qing Yu Zeng thuộc Đại học Y khoa Shantou (Trung Quốc) nói: “Nguyên nhân gây ra gút liên quan đến những yếu tố di truyền và môi trường. Nhưng sự gia tăng tần suất của bệnh hiện nay thì chủ yếu là do yếu tố môi trường, trong đó phổ biến nhất là việc uống nhiều thức uống có cồn”.
Giảm đau trong bệnh gút bằng rau trái
Người có bệnh gút phải uống thuốc giảm đau suốt đời, nhưng dù thuốc có tốt đến mấy thì cũng gây ra tác dụng phụ. Để ngăn ngừa điều này, người ta có thể dùng đến một số rau trái có tác dụng giảm đau. Hàm lượng chất giảm đau trong rau trái tuy không đủ để gây tác dụng phong bế cảm giác đau một cách tức thời, nhưng nếu biết cách áp dụng cùng lúc với dược phẩm thì sẽ hỗ trợ tác dụng giảm đau bằng cơ chế cộng hưởng.
Đứng đầu là cam, mận Đà Lạt, chanh, đậu Hà Lan, cà chua, sơ-ri, nấm mèo, hoặc nếu có điều kiện hơn thì dùng nho, táo tây, nấm đông cô. Theo các chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, hai thức ăn rất tốt cho người bị gút là dưa leo và giấm. Món dưa leo xắt lát trộn dầu giấm với chút củ hành và tỏi, nêm bằng muối tiêu có thêm chút mật ong (theo đúng công thức của ngành y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda) nên luôn có trên bàn ăn. Dưa leo và giấm có tác dụng ngăn chặn phản ứng thoái biến chất đạm purin, đồng thời làm tăng bài tiết axit uric.
Nếu chỉ chọn một dạng thực phẩm đóng vai trò chủ chốt trong chế độ dinh dưỡng của người bị gút thì khoai tây là số một! Con người đã có kinh nghiệm dùng khoai tây cho người bị viêm khớp từ thời thượng cổ. Bệnh nhân gút nên tập ăn mỗi ngày vài củ khoai tây luộc vừa chín (tránh luộc quá lâu vì làm thất thoát vitamin C).
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Gout, cần điều trị sớm
Bs Nguyễn Hồng Thu
Gout tuy không phải là một căn bệnh gây chết người nhưng những biến chứng của bệnh thì rất phức tạp và nguy hiểm. Trong đợt tầm soát bệnh gout với quy mô lớn qua chương trình xét nghiệm miễn phí chỉ số Acid Uric do Viện Gút tổ chức, cho thấy đến hết tháng 7.2009 đã có 2.468 bệnh nhân được chẩn đoán bị bệnh gout, trong đó 735 bệnh nhân đã chuyển sang giai đoạn mãn tính và nhiều trường hợp đã bị biến chứng nặng.
Bệnh gout thường gặp ở đàn ông, nhất là ở những người  thường xuyên ăn thức ăn giàu đạm, uống nhiều rượu, bia... Bệnh khởi phát cấp tính, thường vào nửa đêm gần sáng, với biểu hiện sưng tấy, nóng, đỏ, đau dữ dội và đột ngột ở một khớp (không đối xứng). Thường gặp nhất ở ngón chân cái, kế đó là khớp cổ chân, khớp bàn chân, các ngón chân khác, khớp gối, các khớp ở bàn tay, khuỷu tay và các vùng gần khớp...
Hậu quả của các đợt viêm khớp gout cấp gây ra những cơn đau kinh hoàng cho bệnh nhân. Tuy nhiên những đợt viêm cấp rầm rộ nhưng cũng chỉ kéo dài khoảng 5 ngày rồi hết, không để lại di chứng gì tại khớp.
Khi bệnh đã chuyển sang mãn tính sẽ xuất hiện nhiều cục tophi quanh khớp, cứng khớp, biến dạng khớp, gây tàn phế; sỏi hệ tiết niệu đặc biệt là sỏi thận, nguy hiểm hơn cả là suy chức năng thận, đây là nguyên nhân chính làm giảm tuổi thọ của các bệnh nhân gout.
Từ năm 2008 đến nay, Viện Gút đã và đang triển khai chương trình “Bác sĩ đồng hành cùng bệnh nhân điều trị bệnh gout”, điều trị hiệu quả bằng đông và tây y kết hợp cho bệnh nhân gout, kể cả bệnh nhân gout mãn tính. Tổng kết hơn 3.000  bệnh nhân trong cả nước điều trị ngoại trú theo chương trình này,  đã phát hiện một số nguyên nhân làm cho bệnh gout khó điều trị và dễ biến chứng như: 
- Thói quen tùy tiện khi sử dụng thuốc của nhiều bệnh nhân, gặp ai giới thiệu thuốc gì cũng uống kể cả những loại thuốc không rõ nguồn gốc, trong đó nhiều loại giảm đau nhanh nhưng có thể có thành phần độc hại, sử dụng lâu ngày gây nguy hiểm cho sức khỏe.
- Nhiều bệnh nhân thường nôn nóng khi điều trị, ảnh hưởng đến kết quả điều trị. 
- Trong quá trình điều trị nhiều bệnh nhân không tuân thủ chỉ dẫn của bác sĩ về chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân gout, vẫn tiếp tục ăn nhậu nên việc điều trị không có tác dụng. 
- Sau lần đầu lên cơn gout cấp thường phải vài tháng sau hoặc vài năm sau mới tái phát tiếp cơn đau nên bệnh nhân thường hay chủ quan cho rằng bệnh đã hết,  không quan tâm điều trị và điều chỉnh chế độ sinh hoạt để bệnh tiến triển nhanh. 
Vì vậy khi phát hiện có những biểu hiện bị bệnh gout, nhất là ở những người thường xuyên ăn nhậu nên đi khám để được bác sĩ tư vấn và điều trị sớm tránh để bệnh chuyển sang mãn tính gây nhiều biến chứng nguy hiểm.                                                              
Thanhnien.com.vn





TIN VUI CHO BỆNH NHÂN GOUT

Bệnh nhân Gout, kể cả những người đã bị mãn tính lâu năm thường xuyên bị những cơn đau kinh hoàng hành hạ, giờ đây sẽ  không còn phải bi quan vì đã mắc căn bệnh quái ác này nữa.
  Viên nhộng Khang Thuỵ I  có thành phần hoàn toàn từ thảo dược quý hiếm, được các Bác sỹ, Dược sỹ chuyên sâu về Gout ở Hà Nội và TP.HCM nghiên cứu đánh giá lâm sàng từ nhiều năm nay đã trở thành cứu cánh của bệnh nhân Gout.
Khả năng kỳ diệu của Khang Thuỵ I là : Giải phóng muối urat lắng tụ tại các khớp tay, chân là nguyên nhân gây nên các cơn đau; có khả năng làm giảm đường máu, mỡ máu, đồng thời có khả năng đào thải các lắng tụ muối urat tại thận (nguyên nhân gây sỏi thận). 
Kết thúc điều trị, bệnh nhân sẽ trở lại chế độ sinh hoạt ăn uống như người bình thường, khả năng tái phát bệnh rất thấp nếu có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi điều độ. 
Nhiều bệnh nhân có hạt tophi ở tay, chân sau một thời gian điều trị có thể nhỏ lại hoặc biến mất. 
Tất cả các bệnh nhân Gout, kể cả những người đã bị mãn tính lâu năm, những bệnh nhân đã bị biến chứng sang thận, tiểu đường, béo phì đều có khả năng đáp ứng khi được điều trị theo chương trình này.
Bệnh nhân điều trị tại nhà, được các Dược sỹ, Bác sỹ thường xuyên liên lạc qua điện thoại, hoặc thư điện tử để theo dõi chặt chẽ và hướng dẫn trong suốt quá trình điều trị là đảm bảo tốt nhất cho việc điều trị dứt điểm bệnh Gout.

VIỆN GÚT 

Địa chỉ : 98 Yên Thế, Phường 2, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại : 08 62968626  Fax : 08 62968627  

VP tại Hà Nội : Tầng 3, 16 Phạm Hùng - Từ Liêm, Hà Nội

Điện thoại : 04 37689099  Fax: 04 37689847




Hướng dẫn tham gia điều trị gout
Tổng đài điện thoại tự động cho bệnh nhân gout
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân gout ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào cũng có thể nghe được chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt từ đó thực hiện cho đúng, từ ngày 01/08/2008, Viện Gút đã triển khai tổng đài tự động số 08 2647147 và 04 7689099
Bệnh nhân gout cần lưu ý khi nghe chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gout qua chương trình tổng đài tự động nên hiểu đúng từ "kiêng" là những thức ăn bệnh nhân gout phải kiêng tuyệt đối; còn từ "hạn chế" là những thức ăn có thể ăn được nhưng ăn với số lượng hạn chế.

Hướng dẫn tham gia điều trị bệnh gout
Bệnh nhân gout ở các tỉnh xa TP.HCM và Hà Nội thường lúng túng không biết làm sao để mua thuốc và tham gia điều trị. Do đặc điểm bệnh nhân gout không cần nằm viện, nhưng lại cần phải được các Bác sỹ khám và chẩn đoán chính xác bị gout cùng tất cả các bệnh kèm theo và nhiều yếu tố liên quan đến bệnh mới đưa ra được phác đồ điều trị đúng. 
Vì vậy lần đầu, bệnh nhân cần đến khám tại phòng khám của Viện Gút ở 243/4 Tô Hiến Thành, Phường 13, Quận 10, TP.HCM hoặc khám tại  tầng 3 số 16 Phạm Hùng, Từ Liêm Hà Nội. Sau đó bệnh nhân sẽ mua thuốc về nhà điều trị trong sự theo dõi chặt chẽ của Bác sỹ qua điện thoại. Trường hợp bệnh nhân mua thuốc cho từng tháng điều trị thì những lần tiếp theo cũng không cần phải về TP.HCM hoặc Hà Nội mà có thể chuyển tiền qua ngân hàng và gửi thuốc qua bưu điện.
Trong suốt quá trình điều trị, Bác sỹ được phân công theo dõi sẽ chủ động điện thoại cho bệnh nhân để hướng dẫn. Bệnh nhân cần phối hợp chặt chẽ, thông báo chính xác tiến triển bệnh cho bác sỹ.
Về việc tái khám :  Bệnh nhân không nên quá nôn nóng mà tự đi làm xét nghiệm máu. Việc điều trị kết hợp bằng đông và tây y cần có thời gian dài nên khi nào đi làm xét nghiệm máu và xét nghiệm những chỉ số gì sẽ do Bác sỹ điều trị trực tiếp hướng dẫn.

BS đồng hành cùng bệnh nhân điều trị bệnh gout
Sau nhiều năm nghiên cứu và đánh giá lâm sàng việc điều trị bệnh Gout bằng nhiều loại thuốc đông dược của Việt Nam và các nước; các Bác sỹ của Viện Gút tại TP.HCM và Hà Nội đã tìm thấy viên nén Khang Thụy I, với thành phần là các thảo dược quý có khả năng hỗ trợ điều trị tận gốc nguyên nhân gây bệnh Gout như: Giải phóng muối urat lắng tụ tại các khớp tay, chân là nguyên nhân gây nên các cơn đau; có khả năng làm giảm đường máu, mỡ máu, đồng thời có khả năng đào thải các lắng tụ muối urat tại thận (nguyên nhân gây sỏi thận).
Kết thúc điều trị, bệnh nhân sẽ trở lại chế độ sinh hoạt ăn uống như người bình thường, khả năng tái phát bệnh rất thấp nếu có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi điều độ. 
Tất cả các bệnh nhân Gout, kể cả những người đã bị mãn tính lâu năm, những bệnh nhân đã bị biến chứng sang thận, tiểu đường, béo phì đều có khả năng đáp ứng khi được điều trị theo chương trình này. 
Tuy nhiên trong quá trình điều trị, một số bệnh nhân có thể bị đau. Các Bác sỹ sẽ thường xuyên liên lạc với bệnh nhân qua điện thoại hoặc qua thư điện tử (email) để theo dõi, hướng dẫn điều chỉnh liều lượng và phối kết hợp các loại thuốc giúp ngăn chặn và loại trừ các cơn đau cho đến khi lành bệnh.





Chữa gout bằng "ăn sữa chua và xoa bóp" đã có hiệu quả
17:01:00 06/03/2010
Sau hơn một tháng điều trị theo phương pháp đơn giản này, ông Tuấn, đang sinh sống tại quận 1, TP HCM, người thường xuyên phải dùng thuốc điều trị gút cấp tính trước đây tỏ ra rất vui khi thông báo với chúng tôi: Đã không còn bị đau, đi lại bình thường và chế độ ăn uống không còn phải kiêng đạm, rượu bia nữa.
Sau khi Báo CAND có bài viết thông tin về phương pháp chữa khỏi bệnh Gout (gút) khá đơn giản bằng cách: Ăn sữa chua (yourt) hàng ngày và dùng thảo dược ngâm rượu xoa bóp trực tiếp vào chỗ đau do bác sỹ đông y Lương Thị Tú (quận Long Biên - Hà Nội) nghiên cứu, áp dụng thành công bước đầu với một số bệnh nhân ở Hà Nội và TP HCM… chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của bạn đọc.
Để bạn đọc có thể nhận thuốc miễn phí và được tư vấn để áp dụng thử, chúng tôi tiếp tục thông tin thêm về vấn đề này.
Trước hết, theo lý giải của bác sỹ đông y Lương Thị Tú, cách điều trị này kết hợp giữa yếu tố hóa học và nguyên tắc vật lý. Phải sau một thời gian dài tìm tòi, thử nghiệm, bác sỹ Tú mới tìm được một chất có thể trung hòa lượng axít uric dư thừa trong cơ thể con người, đó là yourt.
Sữa chua được chọn làm "Dung môi hòa tan axít uric" xuất phát từ lập luận cũng hết sức đơn giản, logic và thực tiễn: Bệnh gút chủ yếu xuất hiện ở đàn ông, còn phụ nữ, do có tuyến sữa được chuyển hóa, vận hành đặc biệt trong cơ thể nên tự bản thân tuyến sữa này đã trung hòa, cân đối được lượng axít uric tồn tại trong cơ thể nên phụ nữ ít bị căn bệnh này hành hạ.
Thảo dược ngâm rượu được đóng chai, phát miễn phí cho người mắc bệnh gút dùng thử.
Về phía bệnh nhân, sau hơn một tháng điều trị theo phương pháp đơn giản này, ông Tuấn, đang sinh sống tại quận 1, TP HCM, người thường xuyên phải dùng thuốc điều trị gút cấp tính trước đây tỏ ra rất vui khi thông báo với chúng tôi: Đã không còn bị đau, đi lại bình thường và chế độ ăn uống không còn phải kiêng đạm, rượu bia nữa.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, với một bệnh nhân gút đặc biệt - bác sỹ Trương Thìn, Chủ tịch Hội Đông y, Hội Châm cứu TP HCM cùng nhóm người mắc bệnh gút áp dụng điều trị thử nghiệm sau thời gian ngắn, thấy kết quả khả quan cũng vừa lấy thêm thuốc của bác sỹ Tú về điều trị tiếp.
Nhận thấy việc điều trị theo phương pháp này bước đầu đã có hiệu quả nhất định, nhà sư Minh Hóa, trụ trì chùa pháp viện Minh Đăng Quang đã lấy dược liệu này về phát miễn phí cho bệnh nhân gút.
Theo thông báo của sư Minh Hóa, thảo dược được nhà chùa phát miễn phí, khách cần xin liên hệ theo địa chỉ: Chùa pháp viện Minh Đăng Quang, số 505 xa lộ Hà Nội, Khu phố 5, phường Thảo Điền, quận 2, TP HCM, điện thoại: 0913.710.268 - 0917.277.268; người bệnh ở xa liên hệ với anh Sơn 0937.391.938 để được nhận dược liệu miễn phí
Phòng tránh viêm khớp tái phát do bệnh gút
Hiện nay số người mắc các bệnh lý chuyển hóa như bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ, gút... ngày càng tăng và trở thành một vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Bệnh gút tuy được biết đến từ rất lâu nhưng thực tế việc điều trị bệnh vẫn còn nhiều bất cập. Điều trị cơn gút cấp thường không khó nhưng dự phòng tái phát bệnh, tránh những đợt viêm khớp tái phát và ngăn chặn bệnh chuyển sang mạn tính lại không đơn giản.
 Vì sao phải dự phòng viêm khớp tái phát do gút? 
Gút là một bệnh do rối loạn chuyển hóa tác nhân purin, với đặc trưng là tăng acid uric trong máu và lắng đọng các tinh thể monosodium urat ở các tổ chức, các mô biểu hiện bằng viêm khớp; tích luỹ vi tinh thể ở khớp, xương, mô phần mềm, sụn khớp, được gọi là tophi; lắng đọng vi tinh thể ở thận, gây bệnh thận do gút; sỏi tiết niệu. Gút là một bệnh liên quan rất nhiều đến chế độ ăn uống, sinh hoạt, thường gặp ở nam giới và tuổi trung niên. Rất nhiều bệnh nhân và ngay cả nhiều thầy thuốc chỉ điều trị viêm khớp cấp tính, sau vài ngày hết viêm khớp tưởng đã khỏi bệnh nên không có điều trị duy trì tiếp theo. Hậu quả là sau một thời gian ngắn một đợt viêm khớp cấp tính mới lại xuất hiện và bệnh diễn biến nhanh chóng đến gút mạn tính với nhiều biến chứng nặng nề như phá hủy khớp, nổi u cục dưới da (cục tophi), sỏi thận, suy thận... Do đó việc điều trị tốt dự phòng cơn gút tái phát đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm hạn chế tối đa tác hại của bệnh đối với hệ xương khớp và hệ tiết niệu. 
Phòng tránh bệnh tái phát như thế nào? 
Các nguyên nhân chính gây tăng acid uric máu là: 
- Do tăng tổng hợp purin và tăng cung cấp qua đường ăn uống. 
- Tăng dị hoá các acid  nhân nội sinh (tiêu tế bào, dùng thuốc điều trị ung thư). 
- Giảm thải trừ acid uric qua thận (suy thận). 
- Dùng thuốc: Lợi tiểu, pyrazynamid, corticoid, aspirin liều thấp. 
Do vậy, mục đích của điều trị dự phòng cơn gút tái phát là làm hạ thấp acid uric xuống dưới mức bình thường, bằng cách tác động lên các nguyên nhân gây bệnh kể trên thông qua các biện pháp sau: 
Chế độ ăn uống, sinh hoạt: Chế độ ăn cho bệnh nhân gút là ăn giảm đạm (100-150g thịt/ngày), ăn giảm calo, giữ trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý. Đảm bảo uống đủ nước để thận có thể lọc tốt (2-2,5 l/ngày). Kiềm hóa nước tiểu để tăng đào thải acid uric qua thận bằng các loại nước khoáng có kiềm cao hoặc nước kiềm 14%. 
Những thực phẩm không nên ăn: tránh thức ăn giàu purin (phủ tạng động vật như gan, óc, tim, lòng, bầu dục, một số loại nấm, măng tây, tôm, cua, cá béo, cá hộp, thịt bê, đậu hạt các loại...). Có thể ăn trứng, sữa, hoa quả. Bỏ thức uống có cồn  như rượu, bia... Tránh lao động quá mức, tránh các yếu tố có thể khởi phát cơn gút như chấn thương... Khi cần phải phẫu thuật hoặc mắc một bệnh toàn thân nào đó, phải chú ý theo dõi sát lượng acid uric máu để điều chỉnh kịp thời. Cố gắng loại bỏ mọi thuốc có thể làm tăng acid uric máu nếu có thể (corticosteroid, lợi tiểu...) hoặc thay bằng các thuốc khác. 
Nếu chế độ ăn đạt hiệu quả, tức là không có các cơn thường xuyên, acid uric máu dưới 60 mg/L (360 mmol/L), không có hạt tophi và tổn thương thận, thì ta chỉ cần duy trì chế độ sinh hoạt và ăn uống như trên là đủ. Nếu không, chúng ta phải dùng thêm các thuốc làm giảm acid uric máu. 
Biện pháp dùng thuốc :
- Colchicin: Ngoài chỉ định trong điều trị cơn gút cấp, colchicin còn được sử dụng với mục đích dự phòng các cơn gút tái phát. Thuốc không làm thay đổi nồng độ acid uric máu và sử dụng liều thấp (0,5-1 mg/ngày). Cần theo dõi tác dụng phụ (tiêu chảy...) của thuốc để điều chỉnh hay kết hợp thuốc kịp thời. 
- Thuốc hạ nồng độ acid uric máu: Các thuốc ức chế tổng hợp acid uric do ức chế men xanthine - oxydase, gây hạ acid uric máu và niệu. Thuốc hay được sử dụng nhất là allopurinol (zyloric) được chỉ định trong mọi trường hợp gút, nhất là trường hợp có tăng acid uric niệu, sỏi thận, suy thận. Song không nên dùng allopurinol trong khi đang có cơn cấp, mà nên đợi khoảng một tháng sau mới bắt đầu. Nếu đang dùng allopurinol mà có đợt cấp, thì ta vẫn tiếp tục dùng thuốc bình thường. Liều thường dùng từ 100-300 mg/ngày, và tùy theo lượng acid uric máu mà chỉnh liều. Trị liệu này có tác dụng ngăn các cơn gút cấp và làm các hạt tôphi, sỏi tiết niệu nhỏ dần và có thể biến mất. Chú ý thuốc hay gây dị ứng và nếu xảy ra thì các tổn thương thường nặng. 
Một số thuốc khác như các thuốc tăng thải acid uric qua thận và ức chế hấp thụ acid uric ở ống thận (benémid, anturan, amplivix...) làm giảm acid uric máu, song làm tăng acid uric niệu, nên có thể gây sỏi thận. Thuốc tiêu acid uric (uricozyme): là enzym uricase có tác dụng chuyển acid uric thành allantoine dễ hòa tan. Các thuốc này ít được sử dụng hơn. 
Tóm lại: Bệnh gút là một bệnh rối loạn chuyển hóa đòi hỏi phải điều trị và theo dõi lâu dài nhưng cho kết quả tốt nếu bệnh nhân tuân thủ tốt chế độ sinh hoạt và ăn uống, và thầy thuốc sử dụng phối hợp các thuốc một cách hợp lý. Chúng ta có thể hoàn toàn phòng tránh được các biến chứng nặng nề của bệnh. 
TS.BS. Đào Hùng Hạnh



Một vài lưu ý khi dùng thuốc chữa bệnh Gout
Người bị bệnh gút (gout) thường điều trị ngoại trú. Do bệnh tiến triển mạn tính, không được chẩn đoán chắc chắn, không khám định kỳ, làm các xét nghiệm cần thiết, nên việc dùng thuốc chưa đúng, kém hiệu quả, có khi còn xảy ra tai biến. 
Người bị bệnh gút thường dùng các thuốc điều trị giảm cơn đau trong đợt cấp và các thuốc dự phòng ngừa khởi phát đợt cấp. 
Thuốc điều trị 
- Colchicin: Môi trường acid dễ làm kết tủa urat gây bệnh gút. Colchicin tạo ra chất ngăn cản sự vận chuyển các vật liệu bị thực bào đến các thể tiêu bào, ức chế sự thực bào của bạch cầu trung tính với tinh thể urat, giữ cho môi trường bình thường, nên được dùng điều trị cơn cấp tính và dự phòng khởi phát đợt cấp. Muốn có hiệu quả phải dùng ngay khi khởi phát đợt cấp. Thuốc gây nôn, tiêu chảy (xảy ra trước khi giảm triệu chứng đau). Cần giảm liều khi thuốc đã có hiệu quả.
Thận trọng với người bệnh về dạ dày, ruột, thận, gan, tim, loạn thể tạng máu; không dùng khi các bệnh này ở mức trầm trọng. Thận trọng khi dùng cho người già, sức yếu, phụ nữ mang thai, nuôi con bú. Không dùng thuốc lâu dài vì có thể gây bệnh về cơ. 
Khi dùng thuốc nếu có hiện tượng nôn, tiêu chảy chứng tỏ thuốc đã quá liều, phải giảm liều hay tạm ngưng trị liệu. Thuốc có thể làm nổi mề đay, ban đỏ dạng sởi, suy giảm tủy xương, viêm thần kinh ngoại biên, rụng tóc nhưng hiếm gặp nếu dùng đúng liều. 
- Kháng viêm không steroid (NSAID): Là thuốc chọn lựa đầu tiên, thường dùng ít nhất 5-7 ngày khi người bệnh bị đau mà chưa điều trị hoặc dùng phối hợp với thuốc dự phòng. Các NSAID thế hệ cũ (ức chế COX-1, COX-2) và mới (ức chế chọn lọc COX-2) có hiệu quả như nhau.
Không dùng NSAID cho người suy thận, loét dạ dày đang tiến triển, suy tim sung huyết hay có mẫn cảm với thuốc. 
- Các corticoid: Khi bị bệnh gút đa khớp, ảnh hưởng nặng đến khớp thì có thể tiêm vào khớp. Việc tiêm vào khớp chỉ dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa. Khi chắc chắn không bị nhiễm khuẩn khớp, không bị nhiễm khuẩn da ở chỗ tiêm mới được tiêm (nếu không sẽ gây nhiễm khuẩn tại khớp hoặc lan rộng ra toàn thân, nhiễm khuẩn huyết). Phải tiêm đúng vào vị trí (nếu không sẽ không có hiệu quả, tiêm chệch vào cơ, xương, mạch máu, dây thần kinh quanh khớp có thể gây teo cơ, xốp xương, mất chức năng vận động khớp). 
Thuốc dự phòng: Gồm allopurinol và các thuốc thải acid uric. Chỉ dùng dự phòng cho những người có hơn 3 đợt cấp trong năm. Với người không có triệu chứng, chỉ dùng dự phòng khi xét nghiệm thấy lượng acid uric ở nước tiểu trong 24 giờ lớn hơn 1.100mg, hoặc khi nồng độ acid uric máu cao, kéo dài (ở nam lớn hơn 773mg, nữ lớn hơn 595 micromol/lít). 
- Allopurinol: Bắt đầu dùng liều thấp (liều duy nhất 100mg/ngày), sau tăng dần mỗi 3-4 tuần một lần cho đến khi nồng độ acid uric trong máu trở lại bình thường (liều dùng thường đạt đến 200-300mg/ngày, đôi khi phải dùng đến liều cao 600-900mg/ngày). Nếu xuất hiện một đợt cấp phải giữ liều allopurinol không đổi và đợt cấp được điều trị theo cách thông thường. 
Allopurinol gây độc cho thận. Khi độ lọc cầu thận giảm thì phải giảm liều hoặc giãn khoảng cách giữa các lần dùng. Chẳng hạn khi độ lọc của cầu thận trên 100ml/phút thì mỗi ngày dùng 300mg nhưng khi độ lọc của cầu thận chỉ còn 10-20ml/phút thì 2 ngày mới dùng một lần 100mg. Không làm như thế sẽ xảy ra phản ứng quá mẫn trầm trọng: sốt cao, hoại tử biểu bì, nhiễm độc viêm gan, suy thận với tỷ lệ tử vong cao (khoảng 20%). Khi dùng phải uống nhiều nước (để nước tiểu bài tiết trong 24 giờ, đạt khoảng 2 lít), duy trì nước tiểu trung tính hoặc kiềm. 
Allopurinol có thể gây hoại tử gan, viêm mạch hoại tử, loạn thể tạng máu, tụ máu gây phản ứng da độc tính, phát ban, gây rối loạn dạ dày, ruột, sốt, nhức đầu nhưng ít khi xảy ra nếu dùng đúng liều. 
Allopurinol không có chống chỉ định với người bệnh sỏi thận urat. 
- Các thuốc thải uric: Gồm benzbromaron, probenecid, sulphipyrazon. 
Dùng cho người không dung nạp allopurinol hoặc phối hợp với allopurinol khi dùng đơn độc một loại kém hiệu quả. Người suy thận mà độ thanh thải creatin dưới 50ml/phút thì dùng không có hiệu quả. 
Cần điều chỉnh liều thích hợp để với chế độ ăn bình thường lượng acid uric thải ra ở nước tiểu trong 24 giờ phải dưới 800mg. Phải khởi đầu với liều thấp, sau tăng dần. Ví dụ mức tăng probenecid (từ 500 lên 2.000mg), sulphipyrazon (từ 100 lên 600mg), benzbromaron (từ 100 lên 200mg). 
Khi dùng thuốc, phải uống nhiều nước để có đủ lượng nước tiểu thải ra, nếu không sẽ kết tinh urat, gây sỏi. Có thể dùng natri bicarbonat với liều 1-2-3g/ngày để làm giảm sự kết tinh urat. Trừ benzbromaron đôi khi có thể gây suy gan tối cấp, cả 3 thuốc này chỉ gây rối loạn tiêu hóa và dị ứng nhẹ. Không dùng thuốc cho người có sỏi urat. 
Khi dùng thuốc chữa gút, người bệnh cần khám lâm sàng, xét nghiệm chắc chắn có bệnh mới dùng thuốc. Cần dùng đúng từng loại cho mỗi giai đoạn, đúng thời điểm, đúng liều, đúng thời gian, và khám định kỳ (cả lâm sàng, xét nghiệm chỉ số chức năng gan, thận, đếm máu, đo lượng acid uric trong nước tiểu, trong máu...) để điều chỉnh liều theo chỉ dẫn của thầy thuốc, không tự ý dùng thuốc mò mẫm. Tuy không chữa khỏi, nhưng làm đúng như thế, bệnh sẽ ổn định. 
DS. Bùi Văn Uy



Chế độ ăn, uống cho bệnh nhân gout

Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gout
I. Những thức ăn và đồ uống không có lợi cho người bị bệnh gout :
1. Thức ăn :
* Kiêng tuyệt đối những thực phẩm giàu đạm có gốc Purin như : Hải sản, các loại thịt có màu đỏ như : Thịt trâu, bò, ngựa, thịt dê…; Phủ tạng động vật như : Lưỡi, lòng, tim, gan, thận, óc…; Trứng gia cầm nói chung, nhất là các loại trứng đang phát triển thành phôi như trứng vịt lộn…
  * Giảm bớt những thực phẩm giàu đạm khác trong khẩu phần ăn như :
+ Đạm động vật nói chung như: Thịt lợn, thịt gà, thịt vịt…; Cá và các loại thủy sản như: lươn, cua, ốc, ếch…
+ Đạm thực vật: Đậu hạt nói chung nhất là các loại đậu ăn cả hạt như : đậu Hà Lan, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh…,Các chế phẩm từ đậu nành như : Đậu phụ, sữa đầu nành, tào phớ… nhìn chung ít làm tăng acid uric hơn các loại đậu chưa chế biến.
* Kiêng tất cả các loại thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh như : Măng tre, măng trúc, măng tây, nấm, giá, bạc hà (dọc mùng) vì sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể.
+ Giảm các thực phẩm giàu chất béo no như : Mỡ, da động vật, thức ăn chiên, quay, thực phẩm chế biến với các chất béo no như: Mì tôm, thức ăn nhanh.
+ Bệnh nhân gút có tầm vóc trung bình 50 kg không nên  ăn quá 100g thực phẩm giàu đạm mỗi ngày
 2. Đồ uống :
Tuyệt đối không uống bất kỳ một dạng chất cồn nào như : Rượu, bia, cơm rượu, nếp than…
Hạn chế đồ uống có gaz, nước uống ngọt nhiều đường vì sẽ làm tăng nguy cơ béo phì, một trong những yếu tố tăng nặng bệnh gút.
Giảm các đồ uống có tính toan như : nước cam, chanh, nước trái cây giàu vitamin C vì làm tăng nguy cơ kết tinh urate ở ống thận, tăng nguy cơ sỏi thận.
II. Những thức ăn, đồ uống có lợi cho người bị bệnh gút:
1. Thức ăn có lợi :
Các thực phẩm giàu chất xơ nói chung như dưa leo, củ sắn, cà chua…giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, làm giảm thoái hoái biến đạm để sinh năng lượng nên giảm sự hình thành acid uric.
1. Đồ uống có lợi:
Nên uống nhiều nước (tối thiểu 2,5 đến 3 lít nước mỗi ngày).
Nên uống nước khoáng không ga có độ kiềm cao giúp tăng đào thải acid uric và hạn chế sự kết tinh urate tại ống thận, làm giảm nguy cơ sỏi thận.

Chế độ sinh hoạt đối với người bị bệnh gút :
Giảm cân, tránh béo phì.    
Vận động nhẹ nhàng, vừa sức. Tập luyện nhẹ nhưng thường xuyên. 
Tránh làm việc nặng, quá sức hoặc luyện tập thể thao với cường độ mạnh. 
Giữ ấm cơ thể, tránh để lạnh. 
Giữ tinh thần luôn thoải mái, tránh căng thẳng (stress là một trong những yếu tố gây phát cơn gút cấp).
Uống nhiều nước ngọt dễ bị bệnh gout
Những người đàn ông uống nhiều hơn 2 cốc nước ngọt có đường mỗi ngày sẽ tăng 85% nguy cơ bi bệnh gout, so với những ai uống ít hơn 1 cốc trong cả tháng.
Số trường hợp bị bệnh gout đã tăng gấp đôi ở Mỹ trong những năm gần đây và fructose, một dạng đường, được cho là nguyên nhân. Ở Anh, khoảng 1,5% dân số cũng đang bị bệnh gout và con số không ngừng gia tăng trong 30 năm trở lại. Triệu chứng bao gồm đau sưng và nhức khớp, chủ yếu ở chi dưới. Hiện tượng bị gây ra khi axit uric trong máu bị kết tinh và đi vào trong khớp. 
Các chuyên gia nhận thấy sự gia tăng số trường hợp mắc bệnh đi kèm với lượng tiêu thụ nước ngọt ngày càng cao. Trong khi đó, các nghiên cứu trước cũng khẳng định fructose gia tăng hàm lượng axit uric trong dòng máu. 
Để tìm hiểu kỹ hơn, nhóm các chuyên gia Mỹ và Canada đã thực hiện nghiên cứu kéo dài 12 năm trên 46.000 đàn ông tuổi trên 40 chưa từng bị mắc bệnh gout. Nhóm cũng phỏng vấn những người đàn ông này về chế độ ăn uống của họ. Sau cả quá trình, 755 trường hợp mới bị bệnh gout được ghi nhận. 
Nguy cơ đặc biệt gia tăng ở những người tiêu thụ 5-6 cốc nước ngọt có đường mỗi tuần. Mối tương quan được rút ra sau khi đã tính đến các yếu tố rủi ro khác như chỉ số cơ thể, tuổi già, huyết áp và mức độ tiêu thụ cồn. 
Nước ngọt không đường thì không làm gia tăng nguy cơ bệnh gout nhưng nước quả và những trái cây nhiều fructose như táo và cam đều gia tăng nguy cơ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng khuyên rằng mọi người cần phải cân bằng chế độ rau quả để ngăn ngừa bệnh tim và đột quỵ. 
Theo BBC


4 không trong ăn uống của người bị Gút
Không quên uống nhiều nước là lời khuyên của các bác sĩ dành cho bệnh nhân gút, nhằm nhanh chóng đào thải axit uric - thủ phạm gây các cơn đau. Loại đồ uống được khuyến khích nhất là nước khoáng chứa nhiều bicarbonat.
Những điều nên tránh trong ăn uống : 
Không ăn thức ăn nhiều purin trong giai đoạn tiến triển: Chế độ ăn hợp lý của người bị bệnh gút là nhằm giảm lượng acid uric để không bị tích lũy thành tinh thể ở các khớp và các tổ chức mềm. Hết sức hạn chế ăn phủ tạng động vật như gan, lòng, cật, tim, tiết; cá trích, cá mòi, trứng cá; thịt đỏ, thịt muối; phô mai; cua; tôm. Một số thực phẩm thực vật cũng có hàm lượng purin tương đối cao như nấm, đậu hạt các loại. 
Không dùng thức uống có cồn và chất kích thích: Các nghiên cứu về khẩu phần ăn uống đều khuyên người bị gút hoặc tăng acid uric máu đơn thuần phải kiêng rượu, bia hơi, vang trắng, sâm banh, bia nâu. Tránh ăn những chất kích thích như ớt, cà phê… Nên tránh các buổi liên hoan tiệc tùng. 
Không quên uống nhiều nước: Uống nhiều nước sẽ làm tăng lượng nước tiểu, sẽ đào thải được nhiều acid uric ra ngoài. Nên uống khoảng 2-3 lít/ngày khi đang uống thuốc trị bệnh. Tốt nhất nên uống các loại nước khoáng có nhiều bicarbonat. Nếu không, có thể uống dung dịch natri bicarbonat 3% để kiểm soát huyết thanh, giúp việc đào thải acid uric thuận lợi hơn. 
Không uống các thuốc làm tăng acid uric máu: Đó là các thuốc lợi tiểu nhóm thiazide (hypothiazide), nhóm giảm đau, hạ sốt salicilat (aspirin). Tuyệt đối không dùng các thuốc nhóm corticoid (prednisolon, dexamethason…) vì chúng có thể làm giảm đau nhanh nhưng lại làm tăng acid uric máu, đẩy nhanh bệnh sang thể mạn tính. 
Ngoài chế độ ăn uống, người bị bệnh gút cũng cần tránh các nguy cơ có thể làm xuất hiện bệnh như: làm việc quá sức, nhiễm lạnh, đi giày quá chật, bị nhiễm khuẩn cấp tính hoặc phẫu thuật. 
Gút được xếp vào bệnh của thời đại văn minh. Nó thường gây đau đớn dai dẳng cho người bệnh và là sự báo hiệu nguy cơ bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh thận. Bệnh gút có thể diễn biến tốt nếu dùng đúng các thuốc điều trị và tuân thủ chế độ ăn hợp lý. 
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)


Bữa ăn hàng ngày đối với bệnh nhân mắc bệnh gút
Gut là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa nhân purin của tế bào, có thể nói nôm na là rối loạn chuyển hóa đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức axit uric trong máu và mô. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.
Bệnh thường xảy ra ở những người có địa vị cao trong xã hội hay người có kinh tế khá giả. Tuy nhiên, những năm gần đây, xã hội phát triển, đời sống dần được nâng cao, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn cũng bị rút ngắn nên bệnh gut không phải chỉ là bệnh của nhà giàu mà đã trở thành một trong những bệnh của cuộc sống văn minh hiện đại. Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Yếu tố gia đình thường hay gặp. Khoảng 10-30% bệnh nhân gut có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Bệnh gut đặc biệt hay gặp ở chủng tộc Polynesia, có thể là do thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống giống nhau trong gia đình.
 
Bệnh được biết đến từ thời Hypocrat nhưng đến thế kỷ XVII Sydenham mới mô tả đầy đủ các triệu chứng của bệnh. Một đặc trưng của bệnh gut là việc xuất hiện các cơn viêm khớp cấp tính do gut. Cơn xuất hiện tự phát hoặc sau một bữa ăn hoặc uống rượu quá mức. Nhiều bệnh nhân mô tả các đợt sưng đau khớp dữ dội đến mức không đi lại được sau những khi ăn nhiều hải sản, thịt thú rừng, thịt chó, hay đơn giản chỉ là ăn lòng lợn, tiết canh. Đặc biệt, uống nhiều rượu cũng góp phần gây tái phát bệnh.
Các tổn thương do gut gây ra
Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới như gối, cổ chân và đặc biệt là ở ngón chân cái. Cơn viêm khớp cấp tính thường khởi phát đột ngột và dữ dội vào nửa đêm. Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc màu đỏ. Bệnh nhân đi lại rất khó khăn hay phải nằm bất động do đau. Viêm khớp cấp tính thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Đợt viêm khớp cấp tính do gut kéo dài khoảng 1-2 tuần rồi khỏi, không để lại di chứng nhưng rất dễ tái phát với việc xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicin thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Nhiều bệnh nhân chủ quan không điều trị đến nơi đến chốn, hay tự điều trị bằng các thuốc khớp, đặc biệt là dùng bừa bãi các thuốc prednisolon, dexamethason. Hậu quả là bị loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, gãy xương, tăng huyết áp, đái tháo đường…
Cần có một chế độ ăn uống hợp lý
Khi có các đợt viêm khớp cấp tính, bệnh nhân nên uống nhiều nước (nước chè, nước hoa quả, sữa) và ăn cháo, súp, sữa, trứng. Một chế độ ăn hợp lý cần nhiều rau xanh và hoa quả, đặc biệt là rau actisô, xà lách, cà rốt, bắp cải, dưa chuột, dưa gang, khoai tây, cà chua. Có thể ăn trứng, sữa và các chế phẩm từ sữa, phomat trắng không lên men, cá nạc, ốc sò. Ngoài ra, bệnh nhân cần tích cực uống nhiều nước, đặc biệt là nước khoáng kiềm (sô đa, nước khoáng Lavie, Vĩnh Hảo…) để tăng cường thải tiết axit uric qua nước tiểu.
Để đề phòng đợt tái phát của bệnh, ngoài chế độ dùng thuốc hợp ly, bệnh nhân còn phải phải tuân thủ một số quy tắc ăn uống, sinh hoạt khoa học để đạt trọng lượng cơ thể ở mức sinh lý.
Cần nhận thức rằng ăn uống không hợp lý là một yếu tố thúc đẩy làm xuất hiện bệnh và làm tái phát bệnh, do vậy bệnh nhân cần tự nguyện áp dụng chế độ ăn kiêng, hạn chế bia rượu. Cụ thể lượng thịt ăn hàng ngày không nên quá 150g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi…), các loại thịt đỏ (thịt chó, dê, trâu, bê), các loại hải sản tôm, cua, cá béo), đậu hạt các loại, nấm khô, sôcôla. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thậm chí cả rượu vang, rượu thuốc. Một số loại thức ăn cần hạn chế sôcôla, cacao, nấm, nhộng, rau giền… Cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua… vì chính những chất chua làm cho axit uric tăng cường lắng đọng vào khớp cấp tính. Bệnh nhân mắc chứng béo phì cần áp dụng chế độ ăn giảm mỡ, giảm kalo.
Tóm lại, bệnh nhân bị gut cần phải cố gắng duy trì chế độ ăn uống khoa học hợp lý như chọn cho mình các thức ăn lành mạnh, bổ dưỡng, tránh các loại thức ăn chứa quá nhiều đạm cũng như tránh thức uống có chất kích thích như bia, rượu, cả nước chanh. Bệnh nhân gut cũng cần được sự hợp tác, thông cảm từ người thân, bè bạn trong những dịp liên hoan ăn uống. Khi đó, người bệnh sẽ có thể chủ động áp dụng chế độ ăn thích hợp với tình trạng bệnh của mình để có được cuộc sống vui vẻ và hạnh phúc.
TS. Nguyễn Ngọc Vĩnh
Bị gout có phải kiêng đậu phụ không?
Hỏi : Bị gout có phải kiêng đậu phụ không? tmti...@ 
Trả lời : Các loại đậu nói chung như đậu tương (nguyên liệu làm đậu phụ, tàu hũ, sữa đậu nành..), đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh… đều là những thực phẩm chứa nhiều purine. Acid uric là sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa purine trong cơ thể. Ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều purine sẽ dẫn đến tăng acid uric máu, nguyên nhân của bệnh gout.Do vậy, các bệnh nhân gout nên hạn chế ăn các loại đậu cũng như các thức ăn có chứa nhiều purine khác.
Bác sĩ  Nguyễn Thu Giang



Người bị bệnh gút nên ăn uống như thế nào?
Bệnh gút có thể được đề phòng và điều trị bằng nhiều phương pháp, trong đó vấn đề ăn uống đóng vai trò quan trọng. 
Bệnh gút là một loại viêm khớp xảy ra đột ngột, thường vào ban đêm. Ai cũng có thể bị bệnh này, song hay gặp ở nam giới tuổi trung niên. Nữ giới trước tuổi mãn kinh hầu như không bị bệnh gút, nhưng sau tuổi 60, số nam và nữ mắc bệnh ngang nhau. Bệnh có tính di truyền, hay tái phát với biểu hiện sốt, sưng đau ở các ngón chân, nhưng đau dữ dội nhất là ngón chân cái. Đấy là gút cấp tính. Còn gút mạn tính chủ yếu gặp ở người già với nổi u cục ở quanh khớp, màng hoạt dịch, đầu xương, sụn… Nguyên nhân gây bệnh gút là do quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng làm acid uric trong máu tăng. Khi acid này tăng quá cao (quá 7mg%) và tổng lượng acid uric trong cơ thể tăng quá 150.000mg thì nó sẽ lắng đọng ở một số tổ chức và cơ quan dưới dạng tinh thể: nếu lắng đọng ở màng hoạt dịch thì gây viêm khớp, lắng đọng ở thận gây sỏi thận, v.v…
Để phòng bệnh gút bộc phát, riêng về mặt ăn uống, người bệnh cần chú ý một số điều như sau:
   1 - Tránh béo bệu, vì người béo phì dễ mắc bệnh gút do thường có mức độ acid uric cao. Với người đã béo, cần ăn ít mỡ và protein, thực hiện chế độ giảm cân dần dần có sự hướng dẫn của thầy thuốc, song không nên kiêng cữ quá mức, vì có thể làm cho các tế bào suy nhược và phóng thích acid uric khiến bệnh gút phát sinh.
   2 - Không dùng thực phẩm có purin cao như: gan, thận, lách, óc, tôm, cua, trai, cá trích, cá mòi, thịt, nước thịt, cháo thịt, v.v. vì có thể làm tăng cao acid uric.
   3 - Hạn chế các loại thực phẩm có purin như: măng, đậu khô, bông cải, nấm, bột yến mạch, đậu Hà Lan khô, rau dền, sò, ngũ cốc nguyên hạt, men rượu, cá, thịt, bò, gà, vịt…
   4 - Uống nhiều nước, vì có thể giúp thải trừ acid uric dư thừa khỏi cơ thể trước khi nó gây hại đồng thời có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận mà người bị bệnh gút hay mắc. Ít nhất mỗi ngày uống 5 - 6 ly nước mới có kết quả tốt. Có thể uống thêm dung dịch kiềm (bicarbonat Na 1.000ml/ngày), vì phản ứng viêm của màng hoạt dịch sẽ làm tăng chuyển hóa, sinh nhiều acid lactic tại chỗ và làm giảm độ pH, môi trường càng toan thì urat càng lắng đọng nhiều và phản ứng viêm càng liên tục kéo dài.
   5 - Không uống rượu, bia, vì rượu có thể làm gia tăng sản xuất acid uric và cản trở sự bài tiết chất này khiến bệnh gút phát sinh. Bia cũng vậy vì chứa nhiều chất purin hơn cả rượu nho và rượu mạnh, v.v…
 Bệnh gút gây đau khớp dữ dội, có thể làm mất khả năng vận động và đe dọa tính mạng người bệnh bởi các biến chứng thận, nhiễm khuẩn và suy kiệt. Bởi vậy, cần chủ động phòng bệnh phát sinh bằng mọi biện pháp, trong đó vấn đề ăn uống có vai trò quan trọng.

Bác sĩ  Thuận Minh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét