Kiến thức cơ bản về bệnh Zona
Bệnh Zona là một căn bệnh nguy hiểm, nếu không điều
trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng về sau (sẹo giác mạc, đau đớn, mù loà).
Thế nào là bệnh zona?
Zona do một dạng vi khuẩn Herpes gây ra. Người mắc
bệnh Zona sẽ phải chịu đựng cảm giác đau rát ở vùng phát ban.
Nếu bạn đã từng mắc chứng thuỷ đậu (bệnh thường gặp
ở trẻ nhỏ), đây là điều kiện thuận lợi để bệnh Zona hình thành và phát triển.
Bởi lẽ khi mắc thuỷ đậu ( mặc dù đã được điều trị),
cơ thể sẽ tồn tại một loại virus “ẩn nấp” trong các tế bào thần kinh. Khi hệ
thống miễn dịch bị suy yếu, đó chính là lúc loại virus này “ lộ diện” và gây
nên căn bệnh Zona.
Đối tượng thường mắc căn bệnh này là những
người trên 50 tuổi hoặc có hệ thống miễn dịch suy kém. Ví như bạn có thể mắc
Zona nếu như bạn bị ung thư (việc sử dụng văcxin khiến cho cơ thể bạn trở nên
yếu hơn) hoặc mắc căn bệnh thế kỷ - AIDS.
Triệu chứng của bệnh.
Bệnh thường gây cảm giác đau rát, cảm giác đau đớn
thường xuất hiện trong vài ngày trước khi chứng phát ban xuất hiện.
Chứng phát ban xuất hiện với những vết sưng, mẩn đỏ.
Trong một vài ngày các vết sưng trở nên phồng rộp. Các vết sưng đỏ có thể bao
trùm khắp lưng, ngực, hoặc có thể mọc ở một bên mặt.
Các vết da rộp thường có vảy cứng và sẽ mất đi
sau 7 đến 10 ngày. Bạn sẽ nhìn thấy sự thay đổi của màu sắc da khi các vết
vảy rơi rụng.
Thậm chí, có những trường hợp các lớp vảy sẽ chỉ
bong sau vài tuần, điều này đồng nghĩa với việc cảm giác đau đớn sẽ kéo
dài hơn so với thông thường (từ 1 đến 3 tháng).
Nếu không được chữa trị kịp thời và đúng cách, bệnh
có thể ảnh hưởng đến mắt, dẫn đến sưng phồng mí mắt, đỏ và đau. Lâu dần có thể
dẫn đến sẹo giác mạc ở mắt và ảnh hưởng đến thị lực. Nặng hơn, nó có thể dẫn
tới bệnh tăng nhãn áp (glaucome) trong cả quãng đời về sau, căn bệnh này có thể
dẫn đến mù loà.
Điều trị:
Bệnh có thể chữa khỏi nếu được điều trị đúng
cách. Một số loại thuốc như Acyclovir, Famciclovir hay Valacyclovir đem lại
hiệu quả cao trong việc chữa trị. Thuốc sẽ phát huy hiệu quả cao nếu như bạn
bắt đầu dùng thuốc trong 3 ngày đầu sau khi bị phát ban.
Ngoài ra, các bác sĩ có thể yêu cầu bạn dùng thêm
thuốc có chứa chất xteoit để giảm đau và giảm sưng phồng.
Bệnh Zona ở mắt cần được điều trị kết hợp với thuốc
chống virus và xteoit.
Bên cạnh đó, có thể dùng các loại thuốc như
Acetaminophen hay Ibuprofen để giảm đau đối với các vết sưng phồng.
Lưu ý: Các loại kháng sinh không được sử dụng trong những
trường hợp này vì có thể gây tổn hại cho gan dẫn đến hội chứng Reye.
Bạn cũng có thể sử dụng kèm các loại kem bôi ngoài
da, trên các vết phồng rộp để giảm đau rát.
Căn bệnh này tuy không lây lan, nhưng mọi người xung
quanh bạn có nguy cơ cao bị mắc thuỷ đậu nếu họ chưa bao giờ bị thuỷ đậu
hoặc chưa tiêm phòng. Virus thuỷ đậu có thể sống trong những chỗ phồng rộp và
có thể lan rộng cho đến khi chỗ phồng rộp hoàn toàn lành lại.
Nếu bạn mắc bệnh Zona, tốt nhất nên tránh xa trẻ nhỏ
dưới 12 tháng tuổi và phụ nữ mang thai.
KHỔNG THU HÀ ( Theo Familydoctor)
Việt Báo (Theo_TuoiTre)
ZONA
(Herpes Zoster)
Là một loại bệnh
cấp của hệ thần kinh trung ương, do virus nhiễm vào hạch của các rễ sau gây đau
dây thần kinh rồi phát ban, nổi nốt phỏng nước cấp tính, có đặc điểm là những
thủy bào tụ thành hình đai mọc theo đường dây thần kinh một bên người, kèm theo
triệu chứng đau như lửa châm và các hạch bạch huyết ngoại vi sưng to, giống
Herpes trên vùng da thuộc về dây thần kinh đó.
Có biểu hiện viêm
ở hạch đàng sau và đôi khi trong sừng sau của tủy. Nốt phỏng là do huyết thanh
tiết dưới lớp sừng.
Đông y từ lâu đã
đề cập đến chứng này trong sách ‘Chứng Trị Chuẩn Thằng – Sang Khoa’ (Thế kỷ
17).
Tùy theo vị trí
của vết phỏng xuất hiện mà có tên gọi khác nhau:
Vì người xưa thấy
bệnh phát những vết bỏng (đơn) bò ngoằn nghèo như con rắn nên gọi là Xà Đơn.
Hoặc thấy những nốt bỏng rát (hỏa đơn) mọc lan ở vùng ngang eo lưng (triền
yêu), vì vậy gọi là Triền Yêu Hỏa Đơn…
. Ở vùng lưng gọi
là Đới Trạng Bào Chẩn, Triển Yêu Hỏa Đơn, Hỏa Đới Sang, Hỏa Yêu Đới Độc, Xà
Triển Sang, Bạch Xà Xuyến.
. Ở vùng đầu mặt
gọi là Xà Đơn, Xà Hoạn Sang, Bạch Xà Hoạn, Hỏa Đơn.
Dân gian quen gọi
là Giời Leo, Giời Bò, Giời Đái, Giờ Vắt Khăn…
Bệnh có thể xẩy
ra ở mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ. Thường gặp ở người trưởng thành, mắc bệnh một
lần hết bệnh, rất hiếm mắc bệnh lần thứ hai.
Thường phát vào
mùa xuân, mùa thu.
Bệnh do virut
Herpes, cũng là loại virut gây bệnh thủy đậu nên có tên là Varicella - Zoster
virus.
Nguyên Nhân
+ Do một loại
siêu vi có ái tính thần kinh, gần giống siêu vi gây bệnh thủy đậu.
+ Theo Đông y, do
Can Đởm có phong nhiệt hoặc có thấp nhiệt ở bên trong xuất ra ngoài da gây nên
bệnh.
. Sách ‘Y Tông
Kim Giám – Ngoại Khoa Tâm Pháp Yếu Quyết’ viết: “Chứng Xà hoạn sang (zona) do
thấp thì có mầu vàng trắng, nốt phỏng to nhỏ không đều, vỡ ra chảy nước, chuyển
sang khô thì đau nhiều, do kinh Tỳ và Phế có thấp nhiệt. Điều trị dùng bài Trừ
Thấp Vị Linh Thang”.
. Sách ‘Y Tông
Kim Giám – Ngoại Khoa Tâm Pháp Yếu Quyết’ viết: “Chứng Xà hoạn sang (zona) khô
mà mầu đỏ, hình dạng giống mảng mây, theo phong đi lên, phát ngứa, nóng. Do Can
và Tâm có phong hỏa. Điều trị, dùng bài Long Đởm Tả Can Thang”.
+ Do Độc Ứ Trệ:
kinh mạch không thông, khiến cho khí trệ huyết ngưng, kinh khí không thông,
thường để lại di chứng đau không ngừng hoặc đau như kim châm liên tục.
Chẩn Đoán
Chẩn đoán chủ yếu
dựa vào:
a - Tổn thương da
là những mụn thủy đậu bằng hạt đậu xanh, tập trung thành dải dọc dây thần kinh
ngoại biên, da bóng, nền đỏ, một bên thân người. Thể nặng có mụn phỏng to, mụn
máu hoặc hoại tử giữa có da bình thường. Bệnh phát sinh ở đầu và mặt thường là
nặng.
b - Trước lúc
xuất hiện nốt phỏng ngoài da, thường có sốt, đau như lửa châm đốt ở vùng da kèm
theo các triệu chứng chán ăn, mệt mỏi, khó chịu toàn thân.
b - Đau nhức, có
khi không chịu nổi, và sau khi khỏi vẫn còn đau.
Chẩn Đoán Phân
Biệt
Có thể lầm bệnh
Zona với các bệnh sau:
+ Mụn Dộp
(Herpes): mọc ở bất kỳ chỗ nào, thường ở khóe miệng và bộ phận sinh dục, ít đau
hơn và thường tái phát.
+ Thủy Đậu: Đa số
là bóng nước, rải rác toàn thân, có trong niêm mạc miệng. Các bóng nước không
xuất hiện đồng loạt mà kế tiếp nhau.
+ Chốc Dạng Bóng
Nước: Bóng nước vỡ nhanh, vẩy mầu mật ong, rải rác ở đầu, mặt, cổ.
+ Thấp Chẩn Dạng
Thủy Bào: mụn dộp đa dạng, mọc bất kỳ vùng nào, thường đối xứng 2 bên, ngứa
nhiều.
+ Mụn Phỏng
(Herpes simplex): Thường phát sinh mụn phỏng ở vùng giáp ranh da và niêm mạc,
không theo đường phân bố thần kinh, hơi ngứa và có xu hướng tái phát nhiều lần.
Nốt phỏng thường phát sinh sau sốt hoặc trong quá trình sốt cao, thường kèm rối
loạn tiêu hóa và kinh nguyệt không đều.
Triệu Chứng
Nung bệnh khoảng
7~12 ngày. Trong giai đoạn ủ bệnh thường có sốt, ớn lạnh, mệt mỏi, đâu đầu.
. Khởi Phát: Sốt,
rét run, nhức đầu, khó chịu, rối loạn tiêu hóa. Đau như bị phỏng hoặc đau dây
thần kinh.
. Toàn Phát: Phát
ban, nổi nốt phỏng sau 5~6 ngày của thời kỳ khởi phát ở khu vực của rễ thần
kinh. Lúc đầu là các mảng phát ban. Mụn nước xuất hiện trên nền da mầu hồng
thành từng chùm, kích thước thay đổi, có khi đến 10cm đường kính. Sau vài giờ
thì nổi nốt phỏng trong và đến ngày thứ ba thì đục và khô lại, ngày thứ tư, thứ
năm. Có khi những mụn nước gom lại thành bóng nước, sau đó hóa mủ, vỡ ra, đóng
vẩy. Nổi hạch có thể xuất hiện trước ở khu vực bạch huyết tương đương. Mỗi vùng
da đều có một nhánh thần kinh da chi phối, vì vậy người bệnh sẽ có cảm giác đau
nhức tùy theo nhánh thần kinh bị tổn thương như thần kinh liên sườn, thần kinh
số 5, thần kinh tọa… Các nơi bị phát ban nổi nốt phỏng đỏ, đau dữ dội, kéo dài
rất lâu nhất là ở người lớn tuổi.
Đặc điểm của tổn
thương là chỉ mọc một bên cơ thể. Rất hiếm khi bệnh xuất hiện ở hai bên trừ khi
dây thần kinh có nhánh nối ở bên kia.
Các vị trí thường
xuất hiện Zona là:
+ Zona Liên Sườn:
Đau bên hông sườn như đâm, vài giờ sau nổi hạch ở nách, rồi nốt phỏng xuất hiện
thành một dải vắt ngang từ xương sống đến xương ức ở một bên.
+ Zona Mắt: Đau,
nhức đầu, nổi nốt phỏng ở khu vực thuộc nhánh trên của dây thần kinh sinh ba.
Xuất hiện ở một bên mắt, có loét và đục giác mạc. Có thể liệt cơ vận động mắt.
Nổi hạch trước tai và thường có biểu hiện màng não.
+ Zona Hạch Gối:
Do tổn thương hạch gối gây nên đau, phát ban ở tai ngoài, vành tai, vòm hàm và
cột trước.
Bệnh Zona tiến
triển khoảng2~3 tuần tùy sức đề kháng của người bệnh. càng trẻ diễn tiến càng
nhanh, nhẹ và tự khỏi những trường hợp lớn tuổi thường sau khi hết các triệu
chứng của Zona sẽ cảm thấy đau nhức rất nhiều ở các sẹo của bệnh, tạo nên chứng
‘đau sau Zona’
Thường thì bệnh
Zona không tái phát, chỉ bị một lần duy nhất.
Zona có thể tự
khỏi sau khi hoành hành 7~10 ngày và sẽ tự giảm.
Sau khi khỏi, các
vết thương tổn sẽ để lại sẹo tròn bạc màu, sắp xếp từng đám và dần dần mầu da
sẽ trở lại bình thường.
Theo Đông Y có
thể gặp một số dạng sau:
+ Do Thấp Nhiệt:
Vùng tổn thương mầu đỏ, mụn nước tụ lại, chất nước trong, vỡ ra hoặc lở loét,
đau nhức, ăn vào thì đầy trướng, mạch Nhu Sác hoặc Hoạt Sác, lưỡi hơi đỏ, rêu
lưỡi trắng bệu hoặc vàng bệu.
Điều trị: Thanh
hóa thấp nhiệt, lương huyết, giải độc. Dùng bài Ý Nhân Xích Đậu Thang gia giảm:
Ý dĩ nhân, Xích tiểu đậu đều 15g, Phục linh bì, Ngân hoa, Địa phu tử, Sinh địa
đều 12g, Xa tiền tử, Xa tiền thảo, Xích thược, Mã xỉ hiện đều 10g, Cam thảo 6g,
Hoắc hương, Bội lan đều 9g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).
+ Do Nhiệt Độc:
Da vùng tổn thương mầu đỏ, có thể thấy có nốt ban có nước, mọc gom một chỗ hoặc
giống như dải khăn, cảm thấy nóng, rát, về đêm không ngủ được, họng khô, miệng
đắng, nước tiểu vàng, táo bón, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc vàng khô, mạch Huyền
Sác.
Điều trị: Thanh
nhiệt tả hỏa, giải độc, chỉ thống. Dùng bài Đại Thanh Liên Kiều Thang gia giảm:
Đại thanh diệp, Huyền sâm, Quán chúng, Hoàng cầm đều 9g, Liên kiều, Ngân hoa,
Sinh địa đều 12g, Mã xỉ hiện 12~15g, Đơn bì (sao), Xích thược đều 6g, Lục đậu y
15~30g (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).
+ Do Khí Trệ
Huyết Ngưng: Thường gặp nơi người lớn tuổi, sau khi vết tổn thương lặn đi thì
rất đau, đêm về không ngủ được, tâm phiền, lưỡi đỏ hoặc đỏ tối. ít rêu hoặc rêu
trắng nhạt, mạch Tế Sáp.
Điều trị: Thư Can
lý khí, thông lạc, chỉ thống. Dùng Kim Linh Tử Tán gia giảm: Kim linh tử, Uất
kim, Tử thảo căn đều 9g, Huyền hồ sách 6~9g, Sài hồ (tẩm dấm), Thanh bì đều 6g,
Bạch thược (sao), Đương quy đều 12g, Ty qua lạc 10g (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn
Liệu Học).
+ Can Kinh Uất
Nhiệt: Có nốt ban đỏ, có nước, mặt bóng căng, đau như lửa đốt, miệng khát, họng
khô, bứt rứt, dễ nóng nảy, ăn không ngon, táo bón, tiểu vàng đậm, chất lưỡi đỏ,
rêu vàng, mạch Huyền, Hoạt, Sác.
Điều trị: thanh
nhiệt lợi thấp, giải độc, chỉ thống. Dùng bài Long Đởm Tả Can Thang gia giảm.
Bệnh phát ở đầu
mặt thêm Cúc hoa, phát ở tay vai thêm Khương hoạt, Khương hoàng; Phát bệnh ở
chân thêm Ngưu tất, Độc hoạt. Huyết nhiệt rõ thêm Bạch mao căn, Đơn bì. Có bội
nhiễm, nhiệt độc thịnh thêm Ngân hoa, Bồ công anh, Thạch cao. Táo bón thêm Đại
hoàng. Đau nhiều thêm Huyền hồ, Xuyên luyện tử. Người cao tuổi cơ thể yếu thêm
Đảng sâm, Hoàng kỳ.
+ Tỳ Hư Thấp Trệ:
Sắc ban chẩn nhạt không tươi, mụn nước dày, có thủy bào lớn, loét cháy nước thì
đau nhẹ hơn, miệng không khát hoặc khát mà không thích uống nước, chán ăn, ăn
xong bụng đầy, tiêu lỏng, lưỡi bệu, sắc nhợt, rêu trắng dày hoặc nhầy, mạch
Trầm Hoạt.
Điều trị: Kiện
tỳ, trừ thấp, giải độc. Dùng bài Trừ Thấp Vị Linh Thang Gia Giảm. Thêm Kim ngân
hoa, Bồ công anh để giải độc. Thêm Huyền hồ hoạt huyết, hành khí chỉ thống.
+ Khí Trệ Huyết
Ứ: Bào chẩn sắc tối, đau liên tục, môi thâm, móng tay xanh, chân tay lạnh, tinh
thần mệt mỏi, da đã lành mà vẫn đau tiếp tục. Lưỡi có điểm ứ huyết hoặc tím.
Điều trị: hoạt
huyết, hóa ứ, hành khí, chỉ thống, giải độc. Dùng bài Huyết Phủ Trục Ứ Thang
gia giảm. Đau nhiều thêm Huyền hồ, Nhũ hướng, Mộc dược, Đan sâm. Táo bón thêm
Đại hoàng. Người cao tuổi cơ thể hư yếu thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm. Bệnh phát ở
đầu thêm Ngưu bàng tử, Cúc hoa (dã), Thạch quyết minh. Phát ở ngực sườn thêm
Qua lâu...
Một Số Bài Thuốc
Kinh Nghiệm
+ Cúc Lam Ẩm (Tân
Trung Y 1986, 7): Minh phàn 4,5g, Cúc hoa, Bản lam căn, Thần khúc đều 10g, Câu
đằng, Địa đinh đều 15g, Cam thảo (sống) 3g. Sắc uống.
TD: Thanh nhiệt
giải độc, thu thấp, liễm sang. Trị zona
Đã trị 30 ca,
hoàn toàn khỏi.
+ Bồ Công Anh
Thang (Liêu Ninh Trung Y Tạp Chí 1989, 3): Bồ công anh 30g, Phòng kỷ 15g, Hoàng
cầm, Uất kim đều 12g, Chi tử 15g, Mao căn, Xích tiểu đậu đều 30g, Xa tiền tử
(bọc lại) 10g, Hương phụ 12g, Cam thảo 6g. Sắc uống.
TD: Thanh nhiệt
giải độc, hoạt huyết, lợi thủy. Trị zona.
Đã trị 58 ca,
uống 3~6 thang, chỉ có 1 ca uống 9 thang, hoàn toàn khỏi.
+ Bào Chẩn Thang
(Hắc Long Giang Trung Y Dược 1988, 2): Hoàng cầm 10g, Bản lam căn, Diên hồ sách
đều 25g, Cương tằm, Liên kiều đều 20g, Sài hồ, Hương phụ, Xuyên luyện tử, Bạc
hà, Trần bì, Cam thảo đều 15g. Sắc uống.
TD: Sơ Can lý
khí, thanh nhiệt giải độc. Trị zona.
Đã trị 100 ca, có
kết quả 100%.
+ Sài Uất Thang
(Trung Y Tạp Chí 1988, 8): Đih hương, Uất kim, Sài hồ, Chỉ xác, Xuyên khung,
Xích thược, Cam thảo đều 9g, Bản lam căn 30g.
Sắc uống.
TD: Sơ Can lý
khí, hoạt huyết giải độc. Trị thần kinh đau do di chứng zona.
Đã trị 30 ca,
khỏi 23, không khỏi 7.
+ Thanh Chẩn
Thang (Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1984, 9): Đại thanh diệp, Hoàng cầm, Kim
ngân hoa, Đảng sâm đều 12g, Diên hồ sách, Phòng kỷ, Tử thảo, Cam thảo đều 6g,
Bạch chỉ, Bạch tiên bì đều 9g, Bản lam căn 15g. Sắc uống.
TD: Thanh nhiệt
giải độc, khứ phong trừ thấp, lý khí chỉ thống. Trị zona.
Đã trị 70 ca,
uống 1~19 thang. Khỏi hoàn toàn.
+ Đơn Chi Sài Hồ
Thang (Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn): Đơn bì, Chi tử, Sài hồ, Đương quy,
Xích thược, Xuyên khung đều 10g. Sắc uống.
TD: Tả hỏa ở kinh
Tâm và Can, thanh thấp nhiệt ở kinh Can và Tỳ. Trị zona.
Đã trị 57 ca,
uống 2~6 ngày. Khỏi hoàn toàn.
+ Sài Đơn Thang
II (Hồ Nam Trung Y Tạp Chí 1985, 1): Sài hồ, Đơn bì, Hoàng cầm, Xuyên luyện tử,
Hạ khô thảo, Cát cánh (lá), Nhân trần đều 10g, Diên hồ sách, Nhũ hương (chế),
Một dược (chế), Bản lam căn, Bạch tật lê đều 15g, Mẫu lệ (sống) 30g. Sắc uống.
TD: Sơ Can lý
khí, hoạt huyết giải độc, nhuyễn kiên, tán kết. Trị zona.
Đã trị 42 ca,
uống 3~7 thang, hoàn toàn khỏi.
+ Hiện Lam Phương
(Chu Nhân Khang, Bệnh viện Quảng An Môn, Bắc Kinh): Đại thanh diệp (hoặc Bản
lam căn 15g), Bồ công anh đều15g, Mã xỉ hiện 60g sắc uống. Đau nhiều thêm Diên
hồ sách, Xuyên luyện tử đều 9g.
Dùng trị 144 ca,
kết vảy hoặc tróc vảy trong thời gian từ 1 đến 10 ngày, hết đau 125 ca (86,8%),
điều trị bình quân 5, 3 ngày. Số điều trị trên 10 ngày khỏi là 19 ca.
+ Mã Xỉ Hiện Giải
Độc Thang (Lý Lân Học (Viện Trung Y Bắc Kinh): Mã xỉ hiện, Đại thanh diệp, Tử
thảo đều 15g, Bại tương thảo 15g, Hoàng liên 10g,Toan táo nhân 20g, Mẫu lệ nung
(hoặc Linh từ thạch) 30g, sắc uống. Da đỏ, có sần chẩn, mụn nước tập trung thêm
Sinh địa, Đơn bì. Có mụn lẫn huyết thanh thành từng mảng dùng Mã xỉ hiện 20g,
Ngân hoa, Liên kiều, Trạch tả đều 10g. Bào chần loét dùng Mâ xỉ hiện 25g, Long
đởm thảo, Mộc thông đều 10g, Bồ công anh, Địa long đều 15g. Đau nhiều thêm Diên
hồ sách 9g, Cù túc xác 10g. Tuổi cao thêm Bạch truật, Đảng sâm, Hoàng kỳ.
Đã trị 100 ca,
khỏi 86 ca. Thời gian điều trị khỏi: 4-7 ngày 53 ca, từ 8-14 ngày 33 ca, kết
quả tốt 10 ca, tiến bộ 4 ca.
+ Đơn Chi Sài Hồ
Thang (Cung Cảnh Lâm,Tân Cương, Trung Quốc): Đơn bì, Chi tử, Sài hồ, Đương quy,
Xích thược, Xuyên quy đều 10g, sắc uống. Sốt cao thêm Thạch cao 30g. Đau nhiều
thêm Uất kim 10g, Diên hồ sách 19g. Can hỏa thịnh, thấp nhiệt nặng Hoàng bá,
Long đởm thảo đều 10g, Mã xỉ hiện 15g. Bội nhiễm, hoại tử, nhiệt độc nặng thêm
Hoàng Liên 6g, Đại thanh diệp, Ngân hoa đều 15g. Khí trệ, huyết ứ, thêm Vương
bất lưu hành, Đào nhân đều 10g, Đơn sâm 15g. Táo bón thêm Đại hoàng 10g. Tổn
thương đầu mặt thêm Tang chi 10g. Tổn thương chân thêm Xuyên ngưu tất 12g. Kết
hợp dùng bài thuốc bôi ngoài (Hùng hoàng 30g, Khô phàn 15g, Thiên tiên tửù 20g,
Thanh đại 30g, Băng phiến đều tán nhuyễn, trộn với dầu thực vật, bôi).
Đã trị 57 ca đều
khỏi, thời gian trị khỏi từ 2-6 ngày.
+ Thảo Lam Quy Hồ
Phương (Hứa Diệu Phương Khoa Da Liễu, Học Viện Trung Y Bắc Kinh): Long đởm
thảo, Bản lam căn đều 50g, Đương quy 100g, Nguyên hồ 50g. Tất cả tán bột mịn
cho vào nang nhựa có 0,5g thuốc. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2-6 nang. Trẻ em
và bệnh nhẹ giảm liều.
Đã trị 69 ca đều
khỏi (da lành, hết đau). Thời gian điều trị khỏi bình quân 6-9 ngày. Không có
ca nào để lại di chứng đau.
+ Đại Hoàng Ngũ
Bội Tử Cao (Kiều Thành, Bệnh Viện Trực Thuộc Số 2, Trường Đại Học Y Khoa Tây
An, Tỉnh Thiểm Tây): Sinh đại hoàng 2 phần, Hoàng bá 2 phần, Ngũ bội tử 1 phần,
Mang tiêu 1 phần, tán bột thật mịn, trộn vaselin thành cao mềm 30%. Tùy theo
tổn thương to nhỏ, bôi thuốc vào miếng gạc dày 0,2cm đắp vào, dùng băng dính cố
định, 2 ngày thay 1 lần.
Đã trị 150 ca đều
khỏi. Đắp lâu là 4 lần, ít là 2 lần, bình quân
là 3 lần. Thường sau khi đắp 24 giờ triệu chứng giảm rõ, sau 1 lần đắp thuốc,
cảm giác đau như lửa chích giảm nhẹ, thủy bào đục và teo lại, sau 3 lần khô hết
vảy, triệu chứng chủ quan hết. Ngày điều trị khỏi bình quân là 6 ngày.
Thuốc Dùng Ngoài
+ Bào chẩn chưa vỡ: bôi Kim Hoàng Tán. Lúc đã vỡ, bôi bột Thanh đại hoặc
đắp Thanh Đại Cao, Cứu Nhất Đơn...
- Đối với Zona không đau, chỉ cần thuốc bôi tại chỗ (bột trơ, hồ nước) các
loại thuốc trên nếu có.
- Đối với Zona mắt, nhỏ thuốc kèm băng kín mắt.
. Mang tiêu 30g, hòa với 70ml nước ấm, dùng để bôi, ngày 3~5 lần. Cho đến
khi vết tổn thương khô, đóng vẩy, hết đau (Hồ Nam Trung Y Tạp Chí 1985, 1).
. Hùng Hoàng Cao (Tân Trung Y 1986, 7): Hùng hoàng 6g, Yên cao 10g, trộn
với dầu (mè) cho đều, bôi ngày 2~3 lần.
Châm Cứu
+ Tùy theo đường kinh bị tổn thương mà chọn huyệt.
Huyệt chính: Khúc trì, Thân trụ, Dương lăng tuyền, Tam âm giao.
Huyệt phối hợp: Vùng trán thêm Thái dương, Đầu duy, Dương bạch. Gò má trên
thêm Tứ bạch, Tình minh, Hạ quan; Vùng hàm dưới thêm Giáp xa, Địa thương, Đại
nghênh; Vùng hố nách thêm Kiên trinh, Cực tuyền; vùng trên rốn thêm Hợp cốc;
Vùng dưới rốn thêm Túc tam lý.
Thanh niên, dùng phép châm tả, đối với người lớn tuổi, nên dùng phép bổ.
Hai ngày châm một lần, 10 lần là một liệu trình (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu
Học).
+ Dùng A thị huyệt: Châm phía trên, phía dưới, bên phải, bên trái vùng tổn
thương, châm xiên 15-30o hướng về chỗ tổn thương. Đắc khí thì lưu kim 30 phút,
cứ 3~5 phút vê kim một lần. Ngày châm một lần. 10 ngày là một liệu trình.
+ Dựa vào biện chứng để chọn huyệt phối hợp. Huyệt chính: Can du, Khúc trì,
Chi câu, A thị huyệt. Phối hợp: Do phong hỏa thêm Kỳ môn, Khúc tuyền, Túc khiếu
âm; Dothâps nhiệt thêm Nội đình, Ngoại quan, Hiệp khê; Nhiệt nhiều thêm Hợp
cốc, Âm lăng tuyền, Thần môn.
Châm tả. Hai ngày châm một lần, 10 ngày là một liệu trình (Bì Phu Bệnh
Trung Y Chẩn Liệu Học).
Cứu Pháp
+ Cứu gián tiếp A thị huyệt (vùng tổn thương), Tâm du, Can du. Cứu 30~40
phút, ngày một lần (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).
Nhĩ Châm
+ Chọn huyệt Phế, Thượng thận, Vùng tương ứng vùng bệnh. phối hợp với Thần
môn, Nội tiết, Giao cảm, Chẩm, Dị ứng, Can Tỳ. Châm xong lưu kim 30 phút. Hai
ngày châm một lần, 7 ngày là một liệu trình (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu
Học).
+ Vùng Phế, Tuyến Thượng thận, Thần môn. Kết hợp huyệt tùy theo vị trí:
vùng tay thêm Hợp cốc, Khúc trì; Vùng chân thêm Túc tam lý, Tam âm giao và A
thị huyệt.
Gõ kim mai hoa quanh vùng tổn thương.
Không châm vùng tổn thương da (Trung Y Ngoại Khoa Học)
Phòng Bệnh Và Điều Dưỡng
1. Tránh những kích thích tinh thần, chú ý phòng trị chứng cảm mạo nhiều
lần có thể dẫn đến mắc bệnh.
2. Lúc mắc bệnh chú ý giữ gìn không gãi, giữ vệ sinh da, uống nước nóng đun
sôi để nguội, không ăn các chất cay nóng, điều trị triệu chứng kịp thời.
Bệnh Án Zona
(Trích trong ‘Bắc Kinh Trung Y Học Viện Học Báo 1985 (4): 15’)
Lý Quả, nữ, 60 tuổi. Nhập viện ngày 19-09-1983. Tại vùng ngực sườn bên phải
nổi mụn, đau nhức hơn một tuần rồi. Khám thấy hạ sườn bên phải cho đến dưới bầu
vú có hai đám tổn thương to như hột đào lớn, ở giữa có dịch đặc hoặc giống như
hột đậu xanh lớn có nước, mầu xanh, chung quanh mầu đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng,
mạch Huyền Hoạt. Do nhiệt độc kết tụ ở da gây nên. Điều trị dùng phép thanh
nhiệt giải độc. Thêm trấn thống, an thần. Dùng Mã Xỉ Hiện Giải Độc Thang: Mã xỉ hiện
30g, Đại thanh diệp, Bại tương thảo, Tử thảo đều 15g, Hoàng liên 10g, Toan táo
nhân 15g, Mẫu lệ 30g (sắc trước), Đảng sâm 10g, Toàn yết 6g. bên ngoài dùng Tứ
Hoàng Cao bôi ngày 2 lần.
Ngày 26-09 khám
lại: Vết tổn thương biến mất, bắt đầu đóng vảy, giảm đau nhiều. Dùng bài thuốc
cũ. Ngày 04-10 khám lại: Vùng da hoàn toàn khỏi.
Bệnh Án Zona
(Trích trong Châm
Cứu Lâm Chứng Tập Nghiệm)
Trương X, nam 31
tuổi. Vùng bụng trên bên phải nổi mụn như hạt gạo, vì ở vùng thần kinh thắt
lưng nên bị sốt, đau như kim đâm không chịu nổi, da vùng đó rất ngứa, mặc áo
vào thì đau. Chẩn đoán là đới trạng bào chẩn (zona). Dùng A thị huyệt, cục bộ
để tiêu độc. Dùng kim tam lăng khêu 3~5 vết cho ra máu sau đó dùng Ngải cứu hơ
15~30 phút. Phối huyệt, dùng Âm lăng tuyền, vê kim, thở ra thì vê kim. Ngày
châm một lần, châm 3 lần thì các chứng trạng biến hết
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét